[Đăng ngày: 11/07/2017]
Tác giả Trương Hữu Hoài và cộng sự Chi cục An toàn Vệ sinh Thực phẩm tỉnh Đắc Lắc báo cáo nghiên cứu “Thực trạng nhân lực quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm ngành y tế tỉnh Đắc Lắc năm 2015”.

Theo tác giả nghiên cứu,Chi cục An toàn Vệ sinh Thực phẩm tỉnh Đắc Lắc có 21 người, trong đó 17 người thực hiện công tác chuyên môn an toàn thực phẩm. Tuyến huyện Phòng Y tế có 01 người chuyên trách, Trung tâm Y tế có 2-3 người thuộc Khoa an toàn thực phẩm hoặc Khoa Y tế Công cộng, Khoa xét nghiệm thực hiện công tác an toàn thực phẩm; tuyến xã có 01 người ở trạm y tế làm công tác chuyên trách an toàn thực phẩm. Như vậy, tổng cộng cán bộ đang làm công tác an toàn thực phẩm ở tỉnh Đắc Lắc là 250 người.

Theo phân tích của tác giả Trương Hữu Hoài, tỷ lệ giới tính nam, nữ gần bằng nhau; độ tuổi 25-40 chiếm tỷ lệ nhiều nhất với 67%. Nhóm cán bộ có trình độ trung cấp là y sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh chiếm tỷ lệ 70,4%; trong đó tuyến xã là 64%. Tác giả nghiên cứu chia sẻ với độ tuổi phần lớn 25-40 tuổi, thuận lợi cán bộ có kinh nghiệm trong công tác, tuy nhiên với trình độ trung cấp đa số sẽ làm cho việc triển khai công tác an toàn thực phẩm tại tuyến xã có hiệu quả không cao. Tác giả nghiên cứu cho biết có gần 77% đối tượng nghiên cứu làm kiêm nhiệm công tác khác, nhất là đối với tuyến xã như vậy càng làm cho công tác an toàn vệ sinh thực phẩm hạn chế hơn. Nhóm cán bộ là bác sĩ chỉ chiếm 10%; y tế công cộng có tỷ lệ 1,2%. Năm 2013, đối tượng nghiên cứu được đào tạo chuyên môn về công nghệ thực phẩm và các ngành liên quan có 45 người chiếm 18% tập trung tại tuyến tỉnh và tuyến huyện. Năm 2015 tỷ lệ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ an toàn thực phẩm tăng lên 95%.

Tác giả nghiên cứu cho biết, tại tuyến huyện các hoạt động như tổ chức tập huấn chuyên môn nghiệp vụ an toàn thực phẩm cho tuyến xã; tập huấn kiến thức, phổ biến văn bản mới an toàn thực phẩm cho các cơ sở thực phẩm; triển khai công tác tuyên truyền về an toàn thực phẩm; triển khai hoạt động kiểm tra an toàn thực phẩm; hoạt động giám sát phòng chống ngộ độc thực phẩm đều được triển khai, tuy nhiên tỷ lệ khác nhau. Cụ thể hoạt động tập huấn cho các cơ sở thực phẩm chỉ đạt 35%; hoạt động giám sát an toàn thực phẩm phòng chống ngộ độc thực phẩm đạt 49%; hoạt động triển khai ký cam kết bảo đảm an toàn thực phẩm chỉ đạt 32,7%.

Đối với tuyến xã, các hoạt động có tỷ lệ triển khai thấp là tổ chức hội nghị về an toàn thực phẩm chỉ 22,3%; tổ chức phổ biến văn bản mới an toàn thực phẩm cho các cơ sở thực phẩm chỉ đạt  19%; triển khai ký cam kết đảm bảo an toàn thực phẩm đạt 9,8%; triển khai công tác giám sát phòng chống ngộ độc thực phẩm chỉ đạt 18,5%. Riêng họp Ban chỉ đạo liên ngành xã về an toàn thực phẩm chỉ đạt tỷ lệ là 67%. 

Tác giả nghiên cứu chia sẻ trong nghiên cứu có một phát hiện vấn đề là điều kiện để các cơ sở được ký cam kết đảm bảo an toàn thực phẩm là phải có giấy xác nhận kiến thức về an toàn thực phẩm và giấy khám sức khoẻ; 02 loại giấy này do tuyến huyện cấp; đối với giấy xác nhận kiến thức do Phòng Y tế hoặc Trung tâm Y tế cấp; còn giấy khám sức khoẻ do Bệnh viện Đa khoa tuyến huyện cấp.

Tác giả nghiên cứu đưa ra các khuyến nghị (1) cần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác an toàn thực phẩm theo hướng đào tạo nâng cao trình độ từ trung cấp lên cao đẳng, đại học và sau đại học. Bố trí ổn định cán bộ làm công tác an toàn thực phẩm tại tuyến xã, hạn chế kiêm nhiệm công tác khác;(2) tăng cường tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về an toàn thực phẩm hàng năm cho cán bộ làm công tác an toàn thực phẩm tại các tuyến. Các nguồn kinh phí cần cấp đủ ở các lĩnh vực truyền thông giáo dục sức khoẻ, kiểm tra giám sát phòng chống ngộ độc thực phẩm.

Theo Bộ Y tế, hiện công tác an toàn thực phẩm phải nỗ lực rất kiên trì, bên cạnh đó là những khó khăn về chính sách, văn bản pháp luật, sự phân công, biên chế và kinh phí. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đầy đủ nhưng vấn đề là khâu thực thi, kiểm tra và xử phạt vi phạm. Trong thời gian đến, Bộ Y tế kiến nghị sửa đổi Nghị định 38 về thi hành Luật An toàn thực phẩm, sửa đổi Nghị định 178 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an toàn thực phẩm để nghiêm minh hơn đối với các vi phạm an toàn thực phẩm.

Về trách nhiệm của chính quyền địa phương, chính quyền cấp xã trong lĩnh vực đảm bảo an toàn thực phẩm là rất quan trọng nhất là các vụ ngộ độc rượu xảy ra gần đây; do vậy cần nêu cao trách nhiệm của lãnh đạo UBND xã, phường, thị trấn các địa phương. Bộ Y tế cũng xác định, nhân lực, nguồn lực cho công tác an toàn thực phẩm hiện đang rất khó khăn, không được tăng biên chế và kinh phí sẽ khó khăn trong giải quyết các mâu thuẫn về quản lý an toàn thực phẩm hiện nay. Giải pháp Bộ Y tế đề xuất là mời cán bộ bán chuyên trách ở xã, phường, thị trấn kiêm nhiệm thêm nhiệm vụ này để cùng với các lực lượng làm công tác an toàn thực phẩm, để qua đó tăng thêm nguồn nhân lực cho công tác an toàn thực phẩm tại cơ sở.

Một vấn đề lưu ý nữa là tăng cường công tác truyền thông thay đổi nhận thức của người dân, doanh nghiệp và nhà sản xuất về vệ sinh an toàn thực phẩm để tiến tới xã hội phát triển, đảm bảo công tác an toàn thực phẩm ngày càng tốt hơn, nâng cao được sức khoẻ người dân bền vững hơn.

Lâm Quyên
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 360

Số lượt truy cập: 9285476

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang