
Nitrate và nitrite có trong nguồn nước là kết quả của quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc tự nhiên và phát sinh từ các hoạt động của con người trong việc sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu trong nông nghiệp, các chất thải động vật, chất thải công nghiệp, chế biến thực phẩm.
Sự tồn tại của hàm lượng nitrate, nitrite vượt ngưỡng cho phép trong nguồn nước biểu thị sự ô nhiễm, gây nguy cơ mắc ung thư dạ dày, thực quản, ung thư gan, ung thư ruột già cho con người vì nitrate tác dụng với các axitamin tạo thành nitrosamines.
Từ tháng 1-12/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thanh Hương cùng cộng sự Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá nồng độ nitrate và nitrite trong nước ăn uống ở các tỉnh miền Trung và miền Nam Việt Nam”. Đối tượng nghiên cứu là các mẫu nước thô và nước xử lý do khách hàng từ các tỉnh miền Trung, miền Nam mang đến xét nghiệm tại Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh.
Tiêu chuẩn đánh giá theo QCVN01:2009/BYT. Giới hạn cho phép của pH theo phương pháp thử TCVN 6492-2011 là 6,5-8,5; giới hạn cho phép của nitrate NO3- theo phương pháp thử TCVN 6180-1996 là nhỏ hơn 50mg/l; giới hạn cho phép của nitrite NO2- theo phương pháp thử TCVN6178-1996 là nhỏ hơn 3mg/l. Hai chất nitrite và nitrate đều không có khả năng tạo methaemoglobin, vì vậy trong trường hợp 2 chất này đồng thời có mặt trong nước ăn uống thì tỷ lệ nồng độ của mỗi chất so với giới hạn tối đa của chúng không được lớn hơn 1.
Theo phân tích của tác giả Nguyễn Thanh Hương, nguồn nước phân tích chủ yếu là nước ngầm do người dân tự khai thác và nước xử lý được cung cấp từ hệ thống xử lý nước của địa phương. Có tất cả 1829 mẫu nước thô được đưa vào phân tích, kết quả cho thấy tỷ lệ mẫu không đạt theo QCVN 01: 2009/BYT ở nước thô là 14,6% và nước đã xử lý tỷ lệ mẫu không đạt là 4,8% (117/2614 mẫu). mẫu có tỷ lệ nitrate, nitrite không đạt ở nước thô là 47,9% (128/267 mẫu) và ở nước đã xử lý là 32,5% (38/117 mẫu).
Tác giả nghiên cứu có nhận xét, tỷ lệ nước thô không đạt QCVN01:2009/BYT có sự khác biệt đáng kể so với nước xử lý. Đối với các tỉnh Tây nguyên, miền Trung tỷ lệ này không có sự khác biệt giữa nước thô và nước xử lý.
Độ pH tương quan nghịch với nồng độ nitrate; tức là độ pH thấp trong khi nồng độ nitrate tăng cao. Nguồn nước ô nhiễm này nếu được đưa vào cơ thể người sẽ có nguy cơ tạo ra nitrosamines là chất gây ra bệnh ung thư.
Đối với thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ nhiễm nitrate, nitrite ở nước thô và nước xử lý ở các quận nội thành có sự khác biệt đáng kể, có vai trò tốt khi hệ thống xử lý nước hoạt động tốt. Ở các khu vực còn lại trong khảo sát, tỷ lệ nhiễm nitrate, nitrite trong nước thô và nước xử lý không có sự khác biệt đáng kể, chứng tỏ hệ thống xử lý các chỉ số nitrate, nitrite trong nước chưa có hiệu quả, vì vậy cần đầu tư để có biện pháp xử lý hiệu quả tốt hơn.
Tác giả nghiên cứu có kiến nghị, ở miền Tây, Tây nguyên, Miền Trung cần thu thập thêm mẫu để phân tích rõ hơn về mối tương quan giữa chỉ số pH, nitrate, nitrite và đánh giá chính xác hơn về mức độ ô nhiễm nguồn nước. Để đảm bảo an toàn cho người dân chính quyền cần có biện pháp cung cấp nguồn nước đã được xử lý hiệu quả. Trên thế giới các tiêu chuẩn của EPA (United States Environmental Protection Agency) Mỹ, hiện tại là 10 ppm NO3- và 1ppm NO2- trong nước uống được thiết kế đặc biệt để bảo vệ trẻ sơ sinh tránh gây ra methemoglobinemia.
Chúng ta biết rằng thiếu máu là trường hợp giảm nồng độ hemoglobin hay khối hồng cầu, thấp hơn giới hạn bình thường ở người cùng lứa tuổi. Thiếu máu có thể xảy ra cấp tính hoặc mạn tính theo 3 nhóm nguyên nhân: giảm sản xuất, tăng phá hủy hồng cầu và mất máu. Để chẩn đoán thiếu máu thường dựa vào triệu chứng da và niêm mạc xanh xao, lòng bàn tay nhạt và xét nghiệm định lượng Hb, Hct. Vấn đề lưu ý là phải chẩn đoán được nguyên nhân gây ra thiếu máu để điều trị bệnh triệt để. Bác sỹ sẽ hỏi bệnh sử của người bệnh chi tiết. Khám lâm sàng và chọn lọc các xét nghiệm từng bước theo quy trình chẩn đoán điều trị.
Anh Huy