[Đăng ngày: 28/07/2017]
Viêm tụy cấp là tình trạng viêm cấp tính của tuyến tụy gây tổn thương tế bào nang tuyến, do sự tiêu hủy của các men tụy.

Cơ chế bệnh sinh của viêm tụy cấp rất phức tạp, tổn thương không chỉ ở tuyến tụy mà còn ở những cơ quan và các tổ chức khác dẫn đến bệnh có diễn biến nặng và có nhiều biến chứng. Viêm tụy cấp ở người lớn, đánh giá có thang điểm Ranson, Glasgow và Glasgow cải tiến; APACHE II, các thang điểm này không sử dụng đối với trẻ em.

Theo tác giả Nguyễn Thị Việt Hà – Đại học Y Hà Nội, thang điểm DeBanto cho phép đánh giá mức độ viêm tụy cấp ở trẻ em; tuy nhiên thang điểm có một số hạn chế nhất định khi so sánh với thang điểm Ranson, Glasgow. Do vậy việc tập hợp các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng có hệ thống, phát hiện các dấu hiệu quan trọng giúp tiên lượng bệnh sớm, dấu hiệu của người bệnh để hạn chế các biến chứng xảy ra và cả tỷ lệ tử vong là rất cần thiết.

Từ tháng 1/2011 đến tháng 3/2015, tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Việt Hà cùng cộng sự Trường Đại học Y Hà Nội tiến hành đề tài nghiên cứu “xác định nguyên nhân và mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh viêm tụy cấp ở trẻ em”. Đối tượng nghiên cứu là tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị viêm tụy cấp tại Khoa tiêu hóa của Bệnh viện Nhi Trung ương trong thời gian nghiên cứu. Tiêu chuẩn chọn lựa theo Atlanta 2012; đối tượng nghiên cứu có ít nhất 2 trong 3 biểu hiện sau: (1) Đau bụng cấp (2) Xét nghiệm Amylase máu ≥ 660U/L hoặc P-amylase máu ≥ 150 U/l hoặc Lipase máu ≥93U/l (3) có hình ảnh viêm tụy cấp trên siêu âm; CT ổ bụng hoặc chụp MRI mật tụy.

Theo phân tích của BS Việt Hà, có 62 bệnh nhi đủ điều kiện được mời tham gia nghiên cứu. Tỷ lệ trẻ trai mắc viêm tụy cấp nhiều hơn so với trẻ gái; nam/nữ = 1,5/1. Tuổi trung bình của bệnh nhi mắc viêm tụy cấp là 6,5 tuổi. Có 32,2% trẻ viêm tụy cấp có tiền sử mắc các bệnh tiêu hóa trước khi bị viêm tụy cấp, trong đó nhiều nhất là viêm dạ dày tá tràng, đau họng mạn tính, bệnh lý gan mật. Có 64,5% đối tượng nghiên cứu xuất hiện bệnh viêm tụy cấp trước đó khỏe mạnh. Phân tích về nguyên nhân gây bệnh viêm tụy cấp, có đến 58% đối tượng nghiên cứu không rõ nguyên nhân, tỷ lệ đối tượng nghiên cứu mắc bệnh viêm tụy cấp do u nang ống mật chủ có 9/62 trường hợp; bất thường cấu trúc tụy (u đầu tụy và tụy phân chia 6/62 trường hợp, các nguyên nhân khác như trẻ bị quai bị, nhiễm khuẩn huyết, chấn thương, hội chứng thận hư, u lympho không Hodgkin…chỉ gặp 1-3 trường hợp.

BS Việt Hà cho biết, thời gian từ khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên đến khi vào Bệnh viện trung bình của đối tượng nghiên cứu là 3,2 ngày. Vị trí đau bụng thường gặp nhất là vùng thượng vị (46%), vị trí quanh rốn là 44%. Triệu chứng nôn gặp ở 83,6% đối tượng nghiên cứu, triệu chứng phản ứng thành bụng gặp ở 34% đối tượng nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu có triệu chứng trướng bụng gặp 39,6%. So sánh kết quả nghiên cứu giữa 2 nhóm đối tượng nghiên cứu nhỏ hơn 6 tuổi và ≥6 tuổi dựa trên nhận thức của trẻ đối với các triệu chứng của bệnh; BS Hà cho rằng biểu hiện đau bụng và khu trú vùng thượng vị gặp nhiều ở trẻ ≥ 6 tuổi; tỷ lệ này lên đến 100%. Các triệu chứng đau bụng quanh rốn ở nhóm trẻ dưới 6 tuổi là 54%, nôn có xuất hiện với tỷ lệ 93%.

Về đặc điểm cận lâm sàng, khi nồng độ amylase máu tăng ≥660U/L có gần 80% đối tượng nghiên cứu được xác định là có tăng amylase, nồng độ trung bình trong viêm tụy cấp của p-amylase là 518,9 U/L; Trong nghiên cứu kết quả không ghi nhận có sự khác biệt về mức độ tăng P-amylase giữa thể nặng và thể nhẹ của viêm tụy cấp. Đối tượng nghiên cứu có 66% tăng CRP/máu 42% hạ canxi máu. Xét nghiệm CRP máu tăng cao là triệu chứng dự báo mức độ nặng của bệnh vì vậy CRP được sử dụng trong chẩn đoán mức độ nặng của bệnh.

Trên siêu âm và chụp CT ổ bụng, hình ảnh trên siêu âm có hình ảnh bất thường gặp 51,6%. Tụy to, nhu mô biến đổi, có dịch ổ bụng là 3 hình ảnh thường gặp nhất khi đánh giá hình ảnh tuyến tụy. Xét nghiệm CT ổ bụng xác định tổn thương tụy ở bệnh nhân viêm tụy cấp với hình ảnh tăng kích thước tụy; kết quả nghiên cứu là 72,2% nhu mô tụy biến đổi gặp 50%, bờ tụy không đều có 16,7%; giãn ống tụy gặp 33,3%; dịch ổ bụng gặp 33,3% và dịch quanh tụy là 60%.

BS Việt Hà chia sẻ, chẩn đoán nguyên nhân viêm tụy cấp ở trẻ em khó khăn do các biểu hiện lâm sàng không đặc hiệu. Các xét nghiệm amylase, lipase, p-amylase và siêu âm là những thăm dò có giá trị trong chẩn đoán sớm bệnh.

Viêm tụy cấp ở trẻ em thường có liên quan đến nhiều tình trạng bệnh lý khác nhau. Diễn tiến của viêm tụy cấp có thể nhẹ, tự khỏi cho đến nhiều tình trạng bệnh lý khác nhau. Diễn tiến của viêm tụy cấp có thể nhẹ, tự khỏi cho đến thể nặng gây nguy hiểm đến tính mạng do các biến chứng. Nguyên nhân thường gặp là vi rút, chấn thương, sỏi mật, sỏi bùn đường mật, giun chui ống mật, do thuốc. Các nguyên nhân ít gặp là bệnh hệ thống, chuyển hóa, đột biến di truyền và vô căn.

Mai Trang
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 101

Số lượt truy cập: 9359238

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang