
Năm 2012, nhóm tác giả nghiên cứu Ngô Thị Minh Hạnh cùng cộng sự Bệnh viện Trung ương Quân Đội 108 Hà Nội tiến hành nghiên cứu đề tài “Giá trị sinh thiết cắt lạnh trong phẫu thuật”.
ThS. Minh Hạnh nhấn mạnh lấy mẫu bệnh phẩm là một trong những bước quan trọng nhất để có kết quả chẩn đoán mô bệnh học chính xác. Lấy mẫu phải đúng, đủ và đại diện cho tổn thương. Với những bệnh phẩm có kích thước quá nhỏ sẽ không đạt được yêu cầu. Trên thực tế, các phẫu thuật viên thường mở nhanh, nhỏ để lấy bệnh phẩm nhanh, gửi tức thì. Mặt khác, do khối u chảy máu không cho phép phẫu thuật viên mở rộng và chờ kết quả giải phẫu bệnh. Do đó, đôi khi các mẫu gửi tới mới chỉ thấy vỏ xơ của khối u hay lấy vào tổn thương hoại tử. Vì vậy, dẫn đến kết quả không đồng nhất giữa STCL và xét nghiệm mô bệnh học thường quy sau phẫu thuật.
Thời gian chẩn đoán STCL được tính từ lúc bệnh phẩm được chuyển tới khoa Giải phẫu bệnh cho tới lúc có kết quả trả lời qua điện thoại về phòng mổ, nơi bác sĩ phẫu thuật đang đợi kết quả. Kết quả này phụ thuộc vào thời gian thực hiện kỹ thuật cắt lạnh và thời gian phân tích kết quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian xét nghiệm STCL trung bình là 19,4 ± 6,33 phút.
Đối với những người thực hiện STCL luôn bị áp lực về thời gian để có kết quả rất nhanh nhưng đòi hỏi độ chính xác cao, đặc biệt là chẩn đoán xác định là u lành hay ung thư để giúp phẫu thuật viên lựa chọn biện pháp phẫu thuật cho phù hợp. Một kỹ thuật viên thành thạo thực hiện cắt nhuộm mất từ vài phút đến khoảng 10 phút, thậm chí lâu hơn nếu phải nhuộm nhiều phương pháp. Bác sĩ giải phẫu bệnh đọc kết quả từ vài giây đến khoảng 10 phút, hoặc lâu hơn nếu là những tổn thương khó chẩn đoán. Trong những trường hợp khó khăn, bác sĩ giải phẫu bệnh phải trao đổi với phẫu thuật viên về mẫu bệnh phẩm gửi tới, có thể lấy thêm và cùng phân tích để đưa ra một phương án tốt nhất, giảm thiểu phẫu thuật lại hay tránh đưa ra một quyết định sai lầm. Vì thế, các nhà phẫu thuật nên kiên nhẫn và cùng hợp tác với bác sĩ giải phẫu bệnh...
ThS. Minh Hạnh cho rằng những tiến bộ trong nghiên cứu và điều trị ung thư gần đây đã làm thay đổi chiến lược điều trị ung thư. Đối với những trường hợp ung thư sớm, kích thước u nhỏ, phẫu thuật bảo tồn còn đặt ra vấn đề cần đánh chính xác giá diện cắt không còn mô ung thư. STCL không chỉ là phương pháp chẩn đoán có hay không có ung thư mà còn trả lời được câu hỏi còn mô ung thư ở diện cắt hay không để các nhà phẫu thuật có kế hoạch điều trị. Tuy nhiên, độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác với từng cơ quan và ứng dụng trong các cơ sở y tế khác nhau còn chưa hoàn toàn đồng nhất. Độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác của STCL càng cao đồng nghĩa với độ tin cậy của chẩn đoán STCL càng cao so với phương pháp giải phẫu bệnh thường quy.
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chẩn đoán thường gặp, ThS. Hạnh lưu ý quyết định được đưa ra sau khi xét nghiệm STCL bằng cắt lạnh rất quan trọng, có khi làm thay đổi hẳn chiến lược điều trị. Nếu chẩn đoán sai sẽ dẫn đến những sai lầm khó có thể sửa được. Do vậy, các nhà giải phẫu bệnh thường phải tập trung cao khi phân tích kết quả và rất thận trọng khi đưa ra kết quả cuối cùng. Với những trường hợp khó chẩn đoán, chọn phương án trì hoãn hơn là đưa ra một chẩn đoán quá mức.
Trong nghiên cứu có hai trường hợp gặp trong sinh thiết u thận và đều liên quan đến 2 bệnh u xơ-cơ-mỡ-mạch và ung thư biểu mô tế bào sáng của thận. Một trường hợp STCL chẩn đoán là u xơ-cơ-mỡ-mạch nhưng kết quả mô bệnh là ung thư biểu mô tế bào sáng của thận. Bệnh nhân được phẫu thuật lại sau đó. Còn 1 trường hợp chẩn đoán STCL là ung thư biểu mô tế bào sáng của thận thì kết quả mô học là u xơ-cơ-mạch-mỡ. Bệnh nhân này có khối u thận lớn nên cũng không thể phẫu thuật bảo tồn. Phân tích lại kết quả nhận thấy rằng cấu trúc mỡ trong u xơ-cơ-mạch-mỡ và hình ảnh các tế bào sáng rất khó phân biệt, nhất là trên tiêu bản STCL. Bản thân mô mỡ không bị đông khi làm lạnh, ở nhiệt độ thấp chúng trở nên cứng để cắt được nhưng dễ bị xước và tan mất trong khi cố định bằng cồn. Bản chất các tế bào sáng của thận cũng giàu lipid và hơn thế nữa nhân của các tế bào sáng bị biến dạng do kỹ thuật như đã trình bày ở trên.
Đối với sinh thiết tuyến giáp được thực hành nhiều nhất, có độ nhậy, độ đặc hiệu và chính xác cao, nhưng cũng gặp 3 trường hợp âm tính giả và 1 trường hợp dương tính giả. Hai trường hợp âm tính giả đều gặp trong u tuyến thể nang. Trên mẫu bệnh phẩm STCL rất khó đánh giá xâm nhập mạch và xâm nhập vỏ, trong khi đây là 2 tiêu chuẩn quan trọng để chẩn đoán ung thư tuyến giáp thể nang. Một trường hợp dương tính giả là viêm tuyến giáp mạn tính Hashimoto, có những tế bào với nhân dị dạng (bizza nuclear) trên nền mô lymphô tăng sản mạnh đã đánh lừa các nhà giải phẫu bệnh và dẫn đến chẩn đoán sai.
Trong phẫu thuật khối u, việc đánh giá tình trạng di căn hạch có ý nghĩa quan trọng để đánh giá giai đoạn bệnh, giúp các phẫu thuật viên có chiến lược phẫu thuật triệt căn, can thiệp tối thiểu hay dừng phẫu thuật. Một trường hợp hạch âm tính giả do các đám nhỏ tế bào biểu mô di căn nằm lẫn với các tế bào hạch nên khó có thể nhận thấy trên tiêu bản cắt lạnh. Những trường hợp như vậy, trong xét nghiệm mẫu bệnh học thường quy, thậm chí còn phải nhuộm hóa mô miễn dịch với marker CK và EMA mới có thể đưa ra kết luận cuối cùng. Một trường hợp hạch dương tính với kết quả chẩn đoán cắt lạnh là u lympho ác tính không Hodgkin nhưng kết quả nhuộm Hematoxylin-Eosin thường quy là bệnh Castleman. Đây là một bệnh hiếm và rất khó chẩn đoán.
Các trường hợp trì hoãn cắt lạnh phần lớn liên quan đến u tuyến giáp (22 trường hợp) là do các quá sản nhú bất thường cần phân biệt với ung thư tuyến giáp thể nhú hoặc các u nang tuyến giáp thể phôi, khó đánh giá xâm nhập mạch và xâm nhập vỏ trên tiêu bản cắt lạnh.
Nghi Anh