
Thai lưu do rất nhiều nguyên nhân khác nhau như bất thường nhiễm sắc thể, nội tiết, dị dạng tử cung, bệnh lý cấp và mạn tính của mẹ, bệnh lý nhiễm khuẩn…
Bất thường nhiễm sắc thể thai nhi là nguyên nhân hàng đầu gây ra tình trạng thai lưu, chiếm tới 70% các nguyên nhân. Sự bất thường này có thể được xuất phát từ sự bất thường trong bộ nhiễm sắc thể của bố mẹ hoặc bất thường phát sinh trong quá trình tạo giao tử của các cặp vợ chồng có bộ nhiễm sắc thể bình thường hoặc bất thường phát sinh trong quá trình nhân lên của hợp tử trong cơ thể mẹ. Bất thường nhiễm sắc thể bố mẹ là một trong các nguyên nhân mà hiện tại các giải pháp can thiệp là ít hiệu quả nhất. Sự bất thường nhiễm sắc thể gây rối loạn sự ghép cặp và phân ly trong quá trình tạo giao tử, rối loạn các quá trình điều hòa và ức chế tổng hợp protein của thai nhi trong việc hình thành tính trạng. Hậu quả là thai nhi dừng phát triển gây tình trạng thai lưu.
Năm 2014, nhóm tác giả nghiên cứu Trần Thị Thu Hạnh cùng cộng sự Bệnh viện Phụ sản Trung ương và Trường đại học Y Hà Nội tiến hành nghiên cứu “Đặc điểm ở các cặp vợ chồng có tiền sử thai lưu có nhiễm sắc đồ vợ hoặc chồng bất thường”.
Kết quả nghiên cứu theo phân tích của BS Trần Thị Thu Hạnh, trong tổng số 19 cặp vợ chồng có bất thường nhiễm sắc thể, có 11 trường hợp bất thường xuất phát từ vợ và 8 trường hợp bất thường xuất phát từ người chồng.
Tiền sử sản khoa của các cặp vợ chồng bất thường nhiễm sắc thể ta có thể gặp tình trạng thai lưu ở tất cả các thai kỳ mang thai: 3 tháng đầu, 3 tháng giữa và 3 tháng cuối nhưng tập trung nhiều nhất là thai lưu trong 3 tháng đầu chiếm 68,4%.
Tại thời điểm nghiên cứu, số lần sảy thai của các cặp vợ chồng phân bố như sau: 73,7% có tiền sử thai lưu các tuổi thai khác nhau từ hai lần trở lên, 26,3% chỉ có tiền sử thai lưu 1 lần với 10,5% thai lưu trong 3 tháng đầu và 15,8% thai lưu trên 3 tháng. Theo BS Thu Hạnh, có thể gặp các rối loạn về cấu trúc nhiễm sắc thể hoặc rối loạn số lượng nhiễm sắc thể ở cả vợ và chồng. Những rối loạn lớn như mất đoạn, chuyển đoạn, rối loạn số lượng gây ra các biến đổi bất thường liên quan tới rất nhiều gen và tính trạng nên khả năng gây thai lưu là còn ít tranh cãi.
Tác giả nghiên cứu cũng lưu ý theo một báo cáo nghiên cứu của Murthy phân tích quá trình phân bào của một phụ nữ 25 tuổi có bộ nhiễm sắc thể 46 Xxinv (9) cho thấy 20,5% các tế bào phân chia tâm động sớm, 4% nhân đoạn, 2% với đa bội và 9,33% thể dị bội. Như vậy, khoảng 36% có sự phân chia bất thường trong quá trình phân bào. Hậu quả là sự hình thành noãn bào bất thường, thụ tinh tạo hợp tử bất thường dẫn tới tình trạng thai lưu. Tuy nhiên, tác giả nghiên cứu lưu ý có 64% sẽ diễn ra các hoạt động phân bào bình thường để tạo ra cơ hội sinh em bé bình thường.
Biến thể dị nhiễm sắc là một biến dị đa hình trong quần thể, nó hay gặp ở nhiễm sắc thể số 1, 9, 16. Ban đầu người ta đánh giá đây là biến dị thông thường liên quan tới tính đa hình trong quần thể nhưng nhiều nghiên cứu gần đây đưa ra các bằng chứng về ảnh hưởng của chúng tới quá trình thụ tinh và phát triển.
Còn theo nghiên cứu của Denisse trên nhóm các bệnh nhân vô sinh nam có bất thường liên quan đến bất thường dị nhiễm sắc, riêng dị nhiễm đơn độc trên nhiễm sắc thể số 9, 16 đã chiếm tới 30%. Các nam giới có bất thường dị nhiễm sắc có liên quan rối loạn tinh trùng và tiền sử sảy thai. Nghiên cứu của Nakamura và cộng sự trên 1.790 nam giới vô sinh cho kết quả 12,6% bất thường nhiễm sắc thể và tỷ lệ cao nhất là 46 XY1qh+. Trong nghiên cứu này, dị nhiễm sắc là một biến dị chiếm tỷ lệ cao nhất. Tuy nhiên, tất cả các nghiên cứu đều không phủ nhận khả năng có thể có thai và sinh con bình thường của biến dị này.
BS Trần Thị Thu Hạnh kết luận nghiên cứu là có 68,4% các cặp vợ chồng có bất thường nhiễm sắc đồ có tiền sử thai lưu < 3 tháng; 73,7% các cặp vợ chồng có bất thường nhiễm sắc đồ có tiền sử thai lưu từ hai lần trở lên; bất thường nhiễm sắc thể gặp cả bất thường số lượng và cấu trúc./.
Thanh Tùng