[Đăng ngày: 07/07/2016]
Năm 2015, BS Nguyễn Thị Nhường, Trung tâm y tế huyện Vạn Ninh tiến hành nghiên cứu đề tài “Phân tích tình hình sản phụ sinh thai to”. Nghiên cứu nhằm mục tiêu xác định tỷ lệ sản phụ sinh thai to và tìm hiểu một số yếu tố liên quan với sản phụ sinh thai to tại Bệnh viện Vạn Ninh năm 2015.
Trong suốt thời gian mang thai, trọng lượng thai luôn là vấn đề được thai phụ và thầy thuốc quan tâm hàng đầu. Trọng lượng thai nhi cũng là một yếu tố rất quan trọng để thầy thuốc cân nhắc quyết định cách sinh và đề phòng các tai biến cho mẹ và con sau khi sinh. Việc sinh một thai to thường khó khăn và nguy hiểm cho cả thai nhi lẫn người mẹ trong lúc chuyển dạ và sau sổ thai. Thai to làm tăng tỷ lệ phẫu thuật lấy thai (PTLT), sinh thủ thuật cũng như tổn thương đường sinh sản ở bà mẹ.
Thai to có 2 loại thai to toàn phần và thai to từng phần. Đối với thai to toàn phần có trọng lượng thai > 3500g khi tới ngày sinh. Sự to này bao gồm toàn thể của thai nhi. Đẻ khó do thai to có tính cách tương đối vì tùy vào mức độ mất cân đối giữa thai nhi to và khung chậu của người mẹ. Thường thai nhi to có đường kính lưỡng mỏm vai lớn hơn 12cm và sự đẻ khó thường do vai thai nhi.
Nguyên nhân thai to toàn phần do thai già tháng; Xung khắc giữa máu mẹ và máu con: bệnh lý này dẫn đến phù toàn thể thai nhi và nhau, thai nhi bị phù do ứ nước ở các mô, gan và lách to.
Bệnh về dinh dưỡng: các bà mẹ tiểu đường, tiền tiểu đường và béo phì thường sanh thai to. Người ta thấy cha mẹ to thường sinh thai to (yếu tố di truyền).
Diễn biến của sự chuyển dạ, vì đầu thai to so với khung chậu nên không lọt khi vào chuyển dạ hay gần ngày sanh. Chuyển dạ thường gặp khó khăn, kéo dài đưa đến đờ tử cung, suy thai. Đầu không lọt dù cơn go tốt. Cơn go tử cung bị rối loạn có thể đưa đến vỡ tử cung. Ối vỡ sớm dễ gây nhiễm trùng ối.
Nếu đầu lọt thì sự xuống trong khung chậu cũng sẽ rất chậm. Đầu bị dồn ép nhiều bướu huyết thanh to. Sự xoay diễn ra khó khăn và sổ thai dễ gây tổn thương phần mềm của mẹ. Thai dễ bị chấn thương sọ não.
Sinh khó thường do vai. Sau khi đầu thoát âm, vai sẽ bị giữ lại ở eo trên trong khi đầu bị giữ ở âm hộ. Nếu không xử trí kịp thời, thai sẽ bị ngạt và chết.
Đối với thai to từng phần, đầu to thường gặp não úng thủy, chẩn đoán dựa vào khám âm đạo thấy các đường khớp của đầu thai nhi dãn rộng, xác định nhờ siêu âm, X-quang. Xử trí: nếu não úng thủy to có thể chọc sọ để tháo bớt nước não úng thủy và sau đó hủy thai qua đường âm đạo.
Trường hợp não úng thủy nhỏ, thai nhi có thể sống thì chỉ định PTLT nếu không sinh được đường dưới.
Vai to gặp trong trường hợp thai to, thai vô sọ, mẹ bị đái tháo đường. Xử trí: nếu đầu đã sổ, có thể hạ tay theo thủ thuật Jacquemier.
Bụng to thường gặp ở dị dạng bụng cóc do cổ chướng, thận đa nang, gan to lách to. Tiên lượng khó sổ thai hoặc khi đã sổ đầu rồi thì mắc ở bụng. Xử trí: chọc hút dịch bụng báng, lấy hết phủ tạng (làm bụng thai nhi nhỏ lại) rồi sau đó kéo thai ra qua đường âm đạo.
Thai dính nhau trong sinh đôi: gặp trong sinh đôi cùng noãn, có thể dính lưng, dính bụng. Chỉ định phẫu thuật lấy thai.
Theo báo cáo BS Nguyễn Thị Nhường, qua nghiên cứu 321 sản phụ có trọng lượng thai > 3500g từ tháng  1 – 9/2015 có 100% sản phụ đều có thai to toàn phần.
Độ tuổi trung bình nhóm thai to sinh đường âm đạo là 26,6 tuổi; tuổi trung bình nhóm thai to phẫu thuật lấy thai là 27,4 tuổi; Độ tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 27,17 tuổi; tuổi thấp nhất 17 tuổi, cao nhất là 45 tuổi.
Trong các trường hợp con so, tỷ lệ sinh thai to chiếm tỷ lệ là 22,58%. Trong các trường hợp con rạ, tỷ lệ sinh thai to chiếm là 31,05%. Sự khác biệt về tỷ lệ sinh thai to giữa 2 nhóm con so và con rạ có ý nghĩa thống kê với p < 0,01.
Tỷ lệ sinh thai to trong 9 tháng của Bệnh viện Vạn Ninh là 321ca/1169 trường hợp sinh chiếm 27,46%. Thai có trọng lượng lớn nhất là 4800g. Trong 321 trường hợp sinh thai to có 64 ca sinh thai > 4000g (5,47%). Có 219 ca sinh bằng phẫu thuật lấy thai (68,2%) cao hơn nhiều so với sinh đường âm đạo là 102 ca.
Trong số 64 trường hợp sinh thai to > 4000g thì phẫu thuật lấy thai 53 trường hợp (82,8%).
Liên quan với chỉ số khối cơ thể mẹ (BMI), sản phụ sinh thai to có BMI bình thường chiếm tỷ lệ cao nhất 45,8%, tiếp theo là sản phụ thừa cân chiếm tỷ lệ 38,9%, sản phụ béo phì chiếm tỷ lệ 14,3%, thấp nhất là sản phụ nhẹ cân chiếm tỷ lệ 1%.
Về đường máu có 3,5% đối tượng nghiên cứu có xét nghiệm đường máu lớn hơn 6,5 umol/l.
Tác giả nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị cần vận động phụ nữ mang thai khám thai định kỳ và khám khi có dấu hiệu bất thường, thai phụ được tư vấn đầy đủ về các vấn đề chăm sóc tiền thai trong đó có chế độ dinh dưỡng cho bà mẹ khi mang thai.
Về phía thầy thuốc nên khám sản phụ thật kỹ và nhiều lần trong lúc khám thai, khám phá những nguyên nhân đưa đến thai to để điều trị kịp thời và chủ động chọn lựa hướng xử trí thích hợp nhất, nhằm đạt mục đích cuối cùng mẹ tròn con vuông.
Thanh Tùng
 

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 97

Số lượt truy cập: 9361791

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang