
Tiền sản giật là một hội chứng bệnh lý phức tạp do thai gây ra, thường xảy ra trong nửa sau thai kỳ với các triệu chứng chính là phù, tăng huyết áp và protein niệu. Tiền sản giật (TSG) có thể gây những biến chứng nặng cho mẹ như sản giật, rau bong non, rối loạn đông máu, suy gan, suy thận, chảy máu, phù phổi cấp. Với thai nhi TSG gây ra những hậu quả như thai chậm phát triển, suy thai thậm chí có thể gây chết thai, nếu không được xử trí kịp thời. Ngoài ra TSG cũng góp phần làm tăng tỷ lệ bệnh và di chứng về thần kinh, vận động và trí tuệ cho trẻ sau này.
Để hạn chế được những biến chứng do TSG gây ra với thai nhi, có nhiều phương pháp thăm dò để đánh giá sự phát triển và tình trạng của thai nhi trong tử cung nhằm phát hiện sớm biến chứng và xử trí kịp thời như siêu âm thai, phương pháp ghi biểu đồ nhịp tim thai – cơn co tử cung, phương pháp định lượng các chất nội tiết và chuyển hóa của thai, đo PH máu động mạch rốn…Trong số đó siêu âm Doppler thăm dò tuần hoàn mẹ con và ghi biểu đồ nhịp tim thai được coi là hai phương pháp thăm dò không can thiệp có giá trị nhất hiện nay ở nước ta.
Trên thế giới monitoring sản khoa được ứng dụng vào y học từ năm 1950 để theo dõi sự thay đổi của nhịp tim thai trong thời kỳ thai nghén và trong chuyển dạ để phát hiện những trường hợp suy thai. Sự ra đời của monitoring sản khoa là bươc ngoặt trong chẩn đoán và can thiệp các trường hợp suy thai. Siêu âm doppler được ứng dụng vào y học từ những năm 1970. Sau đó người ta ứng dụng phương pháp này để thăm dò tử cung – rau – thai. Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước khẳng định rằng siêu âm doppler có vai trò quan trọng trong tiên lượng thai nhi, đặc biệt ở thai nghén nguy cơ cao như mẹ bị TSG, đái tháo đường…Tuy nhiên các nghiên cứu trong nước chỉ dừng lại ở những nghiên cứu đơn lẻ từng mạch máu như động mạch tử cung của mẹ, động mạch rốn, động mạch não thai nhi hoặc chỉ số não rốn.
Từ tháng 4/2014 đến tháng 7/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Thị Mai Anh cùng cộng sự Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng, Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Trường đại học Y Hà Nội tiến hành nghiên cứu “Giá trị của siêu âm Doppler động mạch tử cung, chỉ số não rốn thai nhi và test không kích thích trong tiên lượng thai ở bệnh nhân tiền sản giật”.
Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu, tuổi thai từ 28 tuần trở lên, một thai, thai sống. Thai phụ có các triệu chứng như phù, huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg, huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg, protein niệu ≥ 0,3 g/l ở mẫu nước tiểu 24 giờ hoặc ≥ 0,5 g/l ở mẫu nước tiểu ngẫu nhiên. Tiêu chuẩn loại trừ gồm đa thai, thai dị dạng, mẹ có tiền sử mắc các bệnh kèm theo như suy tim, suy thận, đái tháo đường…
Tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên cứu bao gồm chẩn đoán phân loại tiền sản giật nặng và tiền sản giật nhẹ (theo hướng dẫn quốc gia năm 2011).
Về đánh giá tình trạng suy thai, trong nghiên cứu này đánh giá có dấu hiệu suy thai trong tử cung bằng kiểm chứng sau đẻ có 1 trong 2 dấu hiệu sau: trẻ sơ sinh có chỉ số Apgar ở phút thứ nhất < 7 điểm và nước ối lẫn phân xu.
Về đánh giá doppler động mạch tử cung (ĐMTC), trong nghiên cứu này chỉ nghiên cứu hình thái phổ Doppler ĐMTC. Doppler ĐMTC được coi là bình thường khi có cả 3 dấu hiệu: phổ có hình ảnh giả bình nguyên, phức hợp tâm trương lớn chiếm ¾ đỉnh tâm thu, không có vết khuyết tiền tâm trương (notch). Doppler ĐMTC được coi là bệnh lý khi có 1 trong 2 dấu hiệu: phức hợp tâm trương xuống dưới 35% đỉnh tâm thu, xuất hiện vết khuyết tiền tâm trương (notch).
Đánh giá chỉ số não rốn là thương số của chỉ số trở kháng động mạch não/chỉ số trở kháng động mạch rốn. Kết hợp với kiểm chứng lại trẻ sơ sinh sau đẻ qua chỉ số Apgar và màu sắc nước ối, từ đó tính ra điểm cắt của chỉ số não rốn trong tiên lượng thai suy.
Về đánh giá test không kích thích, test (+) là test không đáp ứng tức là độ dao động nhịp tim thai ≤ 5 nhịp/phút hoặc xuất hiện nhịp chậm và không xuất hiện tăng nhịp tim thai nhất thời khi có cử động thai. Test (-) là test có đáp ứng tức là độ dao động nhịp tim thai > 5 nhịp/phút, xuất hiện tăng nhịp tim thai nhất thời khi có cử động thai.
Theo báo cáo của BS Mai Anh, có 229 bệnh nhân tiền sản giật tham gia nghiên cứu, trong đó TSG nặng chiếm 61%. Nhóm nghiên cứu có kết luận Doppler ĐMTC, chỉ số não rốn và test không kích thích là các phương pháp thăm dò có giá trị lớn trong tiên lượng thai suy. Mỗi phương pháp có ưu và nhược điểm riêng khi kết hợp cả 3 phương pháp thăm dò cho giá trị chẩn đoán suy thai với độ nhậy và độ đặc hiệu lần lượt là 87% và 93%.
Về giá trị chẩn đoán thai suy của hình thái Doppler ĐMTC, nghiên cứu cho thấy tỷ lệ Doppler ĐMTC xuất hiện vết khuyết tiền tâm trương (Notch) chiếm 53%. Khi Doppler ĐMTC có Notch giá trị chẩn đoán suy thai với độ nhậy là 76% và độ đặc hiệu là 77%. Vì đối tượng của nghiên cứu này là bệnh nhân TSG nên Doppler ĐMTC có dấu hiệu Notch cao chiếm 53%, hầu hết các nghiên cứu đều kết luận Doppler ĐMTC ở thai nghén bình thường sau 28 tuần không có dấu hiệu này.
BS Mai Anh nhấn mạnh Doppler ĐMTC rất có giá trị trong tiên lượng tình trạng thai. Trên thực tế chúng ta thấy rằng ĐMTC là phần tuần hoàn về phía người mẹ nhưng lại là nguồn cung cấp máu cho toàn bộ hệ thống tuần hoàn rau thai vì vậy khi Doppler ĐMTC bệnh lý tức là nguồn cung cấp máu cho hệ thống tuần hoàn rau thai kém đi vì vậy sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển của thai.
Tác giả nghiên cứu cũng lưu ý khi kết hợp 3 phương pháp thăm dò hình thái Doppler ĐMTC, chỉ số não rốn và test không kích thích cho kết quả cao hơn hẳn so với khi chỉ dựa vào 1 phương pháp và 2 phương pháp thăm dò và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê. Khi kết hợp cả 3 phương pháp trong chẩn đoán sẽ khắc phục nhược điểm của từng phương pháp riêng lẻ từ đó giảm được tỷ lệ dương tính giả và âm tính giả cho kết quả chẩn đoán chính xác với độ nhậy và độ đặc hiệu cao nhất./.
Hữu Lai