
Xẹp đốt sống là bệnh lý do nhiều nguyên nhân gây nên như: chấn thương cột sống, loãng xương, u máu thân đốt sống, đa u tủy…trong đó loãng xương và chấn thương là nguyên nhân phổ biến nhất.
Bên cạnh những triệu chứng thông thường như đau lưng dai dẳng, hạn chế vận động, bệnh nhân có thể bị các biến dạng như gù vẹo cột sống, trượt đốt sống, giảm chức năng hô hấp, thậm chí liệt hoàn toàn.
Tạo hình thân sống qua da (precutaneous vertebroplasty) là phương pháp điều trị mới cho bệnh nhân bị xẹp đốt sống. Chỉ cần gây tê và chích kim vào đốt sống gãy, một lượng xi măng sinh học lỏng được bơm vào thân sống qua kim chuyên dụng, xi măng trám vào các đường gãy. Khi xi măng khô làm hàn gắn các mảnh vỡ trong thân đốt sống, làm bền vững thân đốt sống và giảm đau cho bệnh nhân. Sau mổ chừng nửa giờ là người bệnh đã có thể xoay trở thoải mái trong tư thế nằm và chỉ vài giờ sau là có thể đi lại bình thường mà hiện tượng đau đớn đã giảm đi rất nhiều hoặc hết hẳn.
Hiện nay Việt Nam có nhiều bệnh viện đã thực hiện được tốt kỹ thuật này. Tại Hội nghị khoa học y tế tư nhân thành phố Hồ Chí Minh lần thứ I năm 2015, Bs Tăng Quốc Chí – Bệnh viện Tâm trí Sài Gòn báo cáo nghiên cứu “Tạo hình thân sống bằng cement sinh học”.
Tiêu chuẩn chọn bệnh gồm những bệnh nhân được chẩn đoán gãy lún đốt sống ngực và thắt lưng mà không có dấu hiệu chèn ép tủy, chèn ép rễ thần kinh; Có đau dữ dội vùng lưng hoặc thắt lưng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng xoay trở, vận động, đến khả năng ngồi, đứng và di chuyển của người bệnh; Gãy lún đốt sống đơn thuần hoặc một số trường hợp gãy lún nhiều mảnh; U máu thân sống đã gãy hoặc chưa gãy thân đốt sống; Có gãy lúc đốt sống trên hình ảnh chụp X quang và cộng hưởng từ cột sống.
Tiêu chuẩn loại trừ: Rối loạn đông – chảy máu; Đang có nhiễm trùng tại chỗ hay toàn thân; Có chèn ép cột sống với triệu chứng tủy hay rễ thần kinh; Có tổn thương gãy vỡ nhiều mảnh thân đốt sống; Ngoài ra tuy không có chống chỉ định tuyệt đối nhưng cần thận trọng với những trường hợp thành sau thân sống bị vỡ, sẽ làm tăng nguy cơ dò xi – măng vào ống sống.
Về trang bị phẫu thuật, Bệnh viện có bàn mổ xuyên thấu tia X để chụp X quang theo dõi trong mổ bằng C-arm; Xi măng sinh học polymethylmethacrylate hoặc có thành phần tương tự được phép lưu hành. Các bước tiến hành:
Chuẩn bị cho bệnh nhân: bệnh nhân được thụt tháo để giảm bớt hơi và phân trong ổ bụng làm cho việc nhận định vị trí đốt sống dưới màn hình C-arm được dễ dàng.
Người bệnh được đặt nằm sấp trên bàn mổ. Xác định vị trí chân cung của đốt sống cần bơm xi - măng trên C-arm. Da được gây tê và qua chỗ đó một cây kim chuyên dụng đường kính #1.5 mm được chích vào thân đốt sống.
Đưa kim qua chân cung ở ¼ trên ngoài thân đốt sống trên bình diện phẳng. Đầu kim vào tới 1/3 trước thân đốt sống trên bình diện nghiêng.
Thông qua kim chuyên dụng, xi măng sinh học lỏng được bơm liên tục vào thân sống cho đến khi xi – măng lắp đầy vào các đường hãy hoặc đầy vào các khối u mạch máu. Trong quá trình bơm xi - măng phải kiểm tra C-arm để xác định mức độ lấp đầy của xi – măng.
Sau khi bơm xi – măng 15 phút thì rút kim xi – măng sẽ đông cứng sau 20 phút. Vết kim chích được băng lại, không cần may.
Sau mổ chừng nửa giờ là người bệnh đã có thể xoay trở thoải mái trong tư thế nằm và chỉ vài giờ sau là có thể đi lại bình thường mà hiện tượng đau đớn đã giảm đi rất nhiều hoặc hết hẳn. Bệnh nhân chỉ cần nằm viện từ 24-48 giờ là có thể xuất viện.
Đánh giá về đau: Đánh giá mức độ đau bằng sự chủ quan của bệnh nhân ở thời điểm trước phẫu thuật và sau phẫu thuật 6 giờ, theo thang điểm VAS với 11 mức độ, tối đa 10 điểm: không đau 0 điểm; đau ít: 2 điểm; đau vừa: 4 điểm; đau nhiều: 6 điểm; đau dữ dội: 8 điểm; đau khủng khiếp: 10 điểm.
Theo báo cáo của Bs Tăng Quốc Chí, có 54 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, nam 30 ca, nữ 24 ca; độ tuổi trung bình 56,5 tuổi, trường hợp trẻ nhất là 20 tuổi và lớn nhất là 93 tuổi, đa phần là chấn thương và loãng xương.
Mức độ đau của bệnh nhân theo VAS chiếm đa số từ nhóm 4 điểm đến 10 điểm, tập trung nhiều ở mức 8 điểm (hơn 60%). Điều này phù hợp với bệnh cảnh chấn thương gây tổn thương từ 2 đốt sống trở lên (45%).
Thương tổn đốt sống do chấn thương tập trung nhiều ở vị trí bản lề từ D11 đến L2 (phần chuyển tiếp giữa cột sống ngực và thắt lưng) nên đa phần bệnh nhân trước mổ đều bị ảnh hưởng tới khả năng di chuyển, hạn chế vận động, hoặc thậm chí không đi lại, chỉ nằm (hơn 60%) vì đau đớn.
Kết quả điều trị cho thấy 90% người bệnh giảm đau, đi lại được sau 6 giờ phẫu thuật. Dựa vào thang điểm VAS kết quả nghiên cứu cho thấy được tỷ lệ hồi phục rất cao.
Tỷ lệ biến chứng do xi – măng tràn ra ngoài chiếm 9,28% các trường hợp, chủ yếu do xi – măng tràn ra phía trước thân sống, phụ thuộc vào mức độ tổn thương đốt sống do chấn thương. Tuy nhiên những biến chứng này thường nhẹ, không để lại di chứng.
Không có trường hợp nào bị biến chứng tại vị trí chích kim.
Có một trường hợp phản ứng với xi – măng: Biểu hiện lâm sàng xuất hiện sau mổ hai tuần: sốt nhẹ, đau âm ỉ mơ hồ vùng mổ, bệnh nhân vẫn đi lại, vận động được; cận lâm sàng cho thấy bạch cầu tăng nhẹ (chủ yếu là eosinophils), Amylase/máu tăng cao, CTScan bụng có dò xi – măng ra trước thân đốt sống, gây tụ dịch vùng này, gây phản ứng viêm tụy cấp. Bệnh nhân đáp ứng tốt với điều trị corticoide tĩnh mạch liều cao, triệu chứng lâm sàng cải thiện. Sau 3 ngày điều trị bệnh nhân tự ý xuất viện, chuyển sang bệnh viện khác, và được mỗ dẫn lưu khối tụ dịch. Theo dõi sau mổ tình trạng lâm sàng bệnh nhân xấu dần, nhiễm trùng huyết, suy gan thận và tử vong sau mổ dẫn lưu khoảng một tháng.
Bs Tăng Quốc Chí đã kết luận nghiên cứu là tạo hình thân sống bằng xi- măng sinh học là một phương pháp ít xâm lấn, đem lại hiệu quả cao với tỷ lệ 100% bệnh nhân giảm đau ngay sau khi bơm. Tỷ lệ biến chứng của phẫu thuật thấp (9,28%), phụ thuộc vào mức độ tổn thương đốt sống. Tuy nhiên những biến chứng này thường nhẹ, không để lại di chứng.
Như vậy tạo hình thân sống bằng xi – măng sinh học là một phương pháp điều trị an toàn, giúp giảm đau đớn cho bệnh nhân xẹp đốt sống, ngăn chặn gù cột sống, trượt đốt sống ở những bệnh nhân bị tổn thương cột sống.
Văn Hanh