
Lồng ruột là một cấp cứu ngoại nhi hay gặp nhất và là nguyên nhân hàng đầu gây tắc ruột ở trẻ nhỏ.
Lồng ruột có thể gặp bất kỳ lứa tuổi nào, thường gặp nhất ở trẻ dưới 24 tháng tuổi với tỷ lệ cao ở thời kỳ 4-9 tháng tuổi. Lồng ruột ở trẻ bú mẹ hầu hết là cấp tính, diễn biến hoại tử ruột nhanh. Lồng ruột ở trẻ lớn phần nhiều là thể bán cấp và mạn tính. Chẩn đoán lồng ruột có thể chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng điển hình. Trong trường hợp lâm sàng không điển hình hoặc bệnh nhân đến muộn cần có thêm phương tiện hỗ trợ chẩn đoán. Việc chẩn đoán sớm sẽ giúp điều trị bảo tồn với tỷ lệ thành công cao. Chẩn đoán muộn sẽ đưa đến biến chứng tắc ruột cơ học mà kết quả là bệnh nhân phải chịu phẫu thuật tháo lồng và có thể phải cắt ruột, thậm chí tử vong.
Từ tháng 01/2012 đến tháng 3/2013 nhóm nghiên cứu Đặng Thị Hải Vân, Nguyễn Thị Việt Hà – Trường Đại học Y Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu “Đặc điểm dịch tễ lâm sàng bệnh lồng ruột tiên phát và tái phát ở trẻ em”.
Theo phân tích của nhóm nghiên cứu, có 229 bệnh nhân lồng ruột vào điều trị tại khoa cấp cứu lưu và khoa Ngoại Bệnh viện Nhi Trung ương. Trong đó có 175 bệnh nhân bị lồng ruột tiên phát chiếm 76,4% gấp 3 lần so với số trường hợp lồng ruột tái phát. Trong 54 bệnh nhân bị lồng ruột tái phát chủ yếu là tái phát lần 2 chiếm 43,6%, tiếp đến lần 3 (16,4%), lần 4 (18,2%), rất hiếm gặp lồng ruột lần 9 trở lên. Tỷ lệ trẻ bị lồng ruột cao nhất là dưới 24 tháng tuổi chiếm 80,8%. Nhóm lồng ruột tái phát có tuổi mắc bệnh cao hơn nhóm lồng ruột tiên phát. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Tỷ lệ trẻ nam bị lồng ruột cao hơn trẻ nữ. Tỷ lệ nam/nữ là 1,86/1.
Thời điểm hay gặp lồng ruột nhất là vào mùa thu (47,2%), tiếp đến là mùa đông (21,9%), mùa xuân (19,6%), ít gặp nhất là mùa hạ (11,3%). Không có sự khác biệt về mùa mắc bệnh giữa 2 nhóm lồng ruột. Trẻ bị lồng ruột thường có tình trạng dinh dưỡng bình thường (86%). Chỉ có 10,5% trẻ suy dinh dưỡng nhẹ và hiếm gặp trên trẻ béo phì (3,5%). Sự khác nhau về phân bố tình trạng dinh dưỡng ở trẻ bị lồng ruột tiên phát và tái phát không có ý nghĩa thống kê với p>0,05.
Đối với 2 tuần trước khi bị lồng ruột, tỷ lệ trẻ bị viêm đường hô hấp cấp và tiêu chảy cấp là 46,7%. Tỷ lệ trẻ có tiền sử viêm đường hô hấp cấp hoặc mắc cả hai bệnh ở nhóm lồng ruột tiên phát cao hơn nhóm lồng ruột tái phát. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05.
Có 70 bệnh nhân (30,6%) được chẩn đoán ở tuyến trước, tỷ lệ chẩn đoán đúng ở tuyến trước là 60%. Tỷ lệ chẩn đoán đúng ở nhóm lồng ruột tiên phát cao hơn nhóm lồng ruột tái phát, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p<0,05.
Sự kết hợp triệu chứng lâm sàng đau bụng, nôn, ỉa máu có tỷ lệ cao hơn ở nhóm lồng ruột tiên phát (43,4%) so với nhóm lồng ruột tái phát (13,0%). Tình trạng mất nước, biểu hiện có mất nước chung cho cả 2 nhóm lồng ruột là 52%. Biểu hiện mất nước ở nhóm lồng ruột tiên phát (56,6%) cao hơn nhóm lồng ruột tái phát (37,0%). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Tình trạng sốc, chỉ có 4,8% bệnh nhân lồng ruột có biểu hiện sốc. Không có sự khác biệt về biểu hiện này giữa hai nhóm lồng ruột.
Tỷ lệ sờ thấy khối lồng là 63,8%. Trong nhóm lồng ruột tiên phát tỷ lệ trẻ bị bụng chướng và có phản ứng thành bụng gặp nhiều hơn nhóm lồng ruột tái phát. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Phân tích về điều kiện thuận lợi của lồng ruột cấp ở trẻ nhỏ không tìm thấy nguyên nhân thực thể từ 75% - 90%. Tuy nhiên y học vẫn đưa ra các giả thuyết để giải thích các nguyên nhân gây lồng ruột. Nghiên cứu của tác giả Staatz cho rằng nguyên nhân chính gây bệnh lồng ruột ở trẻ em là tình trạng nhiễm trùng ruột mà 60,6% mầm bệnh tìm thấy qua xét nghiệm phân.
Những bệnh nhân đến sớm thường được chẩn đoán dựa vào triệu chứng lâm sàng như đau bụng cơn, nôn, ỉa máu và sờ thấy khối lồng. Đau bụng cơn là triệu chứng thường gặp nhất. Đau bụng của lồng ruột cấp ở trẻ còn bú xảy ra đột ngột, dữ dội, không có triệu chứng báo trước. Trẻ thường có biểu hiện khóc thét, ưỡn người, mỗi cơn đau kéo dài 5 đến 10 phút, sau cơn đau trẻ mệt thỉu, ngủ lịm đi, sau đó lại xuất hiện cơn đau mới, thời gian giữa các cơn đau kéo dài khoảng 15 phút đến nửa giờ. Trong nghiên cứu này 36,2% bệnh nhân có đầy đủ các triệu chứng đau bụng cơn + nôn + ỉa máu. Tỷ lệ này ở nhóm lồng ruột tiên phát cao hơn ở nhóm lồng ruột tái phát (43,4% và 13%). Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, p<0,05. Nôn cũng là một triệu chứng thường gặp trong lồng ruột cấp. Trong nghiên cứu này có 78,6% bệnh nhân có nôn. Biểu hiện nôn thường kèm theo đau bụng và ỉa máu, rất hiếm trường hợp nôn xuất hiện đơn độc. Tỷ lệ nôn ở lồng ruột tiên phát và tái phát khác nhau không có ý nghĩa thống kê. Triệu chứng nôn xuất hiện cùng đau bụng có thể do nhu động ruột tăng đẩy thức ăn và dịch ruột theo chiều nhu động, nhưng lưu thông ruột lại bị cản trở bởi khối lồng.
Đại tiện phân có máu còn liên quan đến các nguyên nhân thực thể gây lồng ruột như túi thừa Meckel, ruột đôi, polype đại tràng... Các nguyên nhân gây lồng ruột làm cho khối lồng ngày càng chặt, mức độ thiếu máu tại khối lồng ngày càng nặng, gây tắc ruột và dẫn đến hoại tử ruột. Tỷ lệ ỉa phân máu ở lồng ruột tiên phát cao hơn lồng ruột tái phát (47,4% và 14,8%). Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, p<0,05. Sờ thấy khối lồng, khám bụng thường phát hiện thấy khối lồng, khối lồng xuất hiện rõ nhất trong cơn đau bụng. Trong nghiên cứu này, tỷ lệ khám thấy khối lồng là 63,8%.
Khám bụng thấy bụng mềm trong 82,5% trường hợp, không có phản ứng thành bụng là 90,4%. Tỷ lệ khám thấy bụng chướng và có phản ứng thành bụng ở nhóm lồng ruột tiên phát cao hơn lồng ruột tái phát. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, p<0,05. Điều này có thể do lồng ruột tiên phát được chẩn đoán muộn hơn so với lồng ruột tái phát, khi tình trạng tắc ruột đã rõ ràng. Các triệu chứng lâm sàng nêu trên rất có giá trị giúp cho thầy thuốc chỉ định chọn phương pháp điều trị và tiên lượng cho cuộc tháo lồng đối với trẻ mắc lồng ruột.
Anh Duy