Theo các chuyên gia chẩn đoán hình ảnh, siêu âm Doppler màu cho thấy hình ảnh dòng chảy của mạch máu từ đó cho phép đánh giá được những thay đổi huyết động của thai nhi.
Ống tĩnh mạch Arantius là cấu trúc mạch máu nối từ tĩnh mạch rốn đến tĩnh mạch chủ dưới của thai, mang máu giàu oxy của tĩnh mạch rốn về tĩnh mạch chủ dưới. Có nhiều nghiên cứu cho thấy việc đo dòng chảy Doppler của ống tĩnh mạch có vai trò quan trọng trong việc đánh giá lưu lượng tuần hoàn và tim của thai nhi, đặc biệt là sự hiện diện của dạng sóng Doppler bất thường. Các chuyên gia lưu ý, để đánh giá tính hiệu quả của các chỉ số Doppler ống tĩnh mạch trong siêu âm thai, đầu tiên phải xây dựng được giá trị phạm vi tham chiếu bình thường của các chỉ số Doppler ống tĩnh mạch theo tuổi thai; đồng thời cần có giá trị phạm vi tham chiếu riêng cho từng chủng tộc dân số.
Từ tháng 6/2014 đến tháng 6/2016 nhóm tác giả nghiên cứu Lê Hoàng cùng cộng sự Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang, báo cáo đề tài “Chỉ số vận tốc dòng chảy của Doppler ống tĩnh mạch ở thai bình thường tuổi thai từ 22-37 tuần”. Mục tiêu của nghiên cứu là xây dựng biểu đồ bách phân vị chỉ số vận tốc tâm thu (sóng S) của Doppler ống tĩnh mạch ở thai bình thường, tuổi thai 22-37 tuần.

Theo tác giả nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu có 480 thai phụ mang thai bình thường có tuổi thai từ 22-37 tuần đến khám thai và siêu âm thai được lựa chọn từ khoa khám bệnh theo yêu cầu của Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu gồm thai bình thường; tuổi thai 22-37 tuần; tính tuổi thai dựa trên ngày đầu tiên của kinh cuối cùng phù hợp với siêu âm quý 1, đối tượng nghiên cứu không có biến chứng sản khoa trong thời kỳ mang thai. Về quy trình, siêu âm đo Doppler ống tĩnh mạch, thai nằm yên khi thực hiện thăm dò, sử dụng lát cắt dọc giữa phải, phóng to hình ảnh để lồng ngực và bụng thai chiếm toàn bộ màn hình. Phân tích phổ Doppler ống tĩnh mạch có 3 pha: sóng S- tâm thu thất, đồng thời ống tĩnh mạch co bóp để máu đi qua lỗ bầu dục; sóng D-tâm trương thất, van 3 lá mở tạo áp lực âm hút máu về tim; sóng a- nhĩ phải co bóp cuối tâm trương. Xác định hình dạng phổ Doppler bình thường, sóng a luôn dương; nghiên cứu phân tích S là tốc độ dòng máu tối đa ở thì tâm thu; D là tốc độ dòng máu tối đa ở thì tâm trương; a là tốc độ dòng máu tối thiểu ở thì tâm trương.
Tác giả Lê Hoàng phân tích báo cáo, 480 thai phụ đủ điều kiện đều tự nguyện tham gia nghiên cứu. Thai phụ có độ tuổi 20-35 chiếm tỷ lệ 86,1%; số thai phụ mang thai lần thứ nhất chiếm 65,6%; không có trường hợp đối tượng nghiên cứu nào có bệnh lý nội khoa, ngoại khoa. Mỗi đối tượng nghiên cứu có 1 lần đo với sự hiện diện biến đổi sinh học lớn được quan sát, mang tính dại diện cho quần thể. Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ số vận tốc sóng S Doppler ống tĩnh mạch tăng theo tuổi thai tuần 22 đến 37 tuần. Phân tích giá trị của chỉ số vận tốc sóng S cho thấy có điểm phù hợp và không phù hợp so với các nghiên cứu khác cùng tiến hành trên thai nghén bình thường.
Tác giả nghiên cứu cho biết, trong quá trình thực hiện nghiên cứu, nhận thấy động tác hô hấp của thai và thành bụng của người mẹ béo phì có thể làm hạn chế việc xác định ống tĩnh mạch và làm thay đổi giá trị của chỉ số Doppler. Tác giả nghiên cứu lưu ý đây là một chi tiết cần quan tâm trong quá trình thăm khám để có được kết quả chính xác. Các nghiên cứu trong và ngoài nước đều có nhận xét siêu âm đo Doppler ống tĩnh mạch là một phần quan trọng của siêu âm thai, nó trở thành một công cụ để đánh giá chức năng tuần hoàn thai nhi trên lâm sàng.
Tác giả nghiên cứu có kết luận, chỉ số vận tốc sóng S của Doppler ống tĩnh mạch ở thai bình thường tuổi thai từ 22 – 37 tuần có mối tương quan chặt chẽ với tuổi thai theo hàm số y= 1,996 x – 0,022 x2. Hàm số này là cơ sở để tính các giá trị tương ứng với đường bách phân vị 3,5,10,50,90,95,97 để xây dựng biểu đồ bách phân vị của chỉ số vận tốc ống tĩnh mạch tương ứng với tuổi thai từ 22-37 tuần.
Theo tác giả nghiên cứu, tại Việt Nam hiện chưa có nhiều nghiên cứu về Doppler ống tĩnh mạch ở thai bình thường; do vậy việc thực hiện các nghiên cứu liên quan để thu được kết quả phạm vi tham chiếu như nghiên cứu đã tiến hành là một đóng góp giúp chẩn đoán thai nhi khoẻ mạnh; từ đó giúp phát hiện những thai nghén bất thường để có những xử trí kịp thời. Các nghiên cứu trên thế giới có thể có những kết quả khác với nghiên cứu này do có sự khác biệt về quần thể nghiên cứu., phương pháp thống kê khác nhau.
Văn Hanh