
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, đẻ non là trường hợp chuyển dạ đẻ xảy ra từ tuần thứ 22 đến trước tuần thứ 37 của thai kỳ tính từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng. Theo nghiên cứu của WHO, mỗi năm có khoảng 15 triệu trẻ đẻ non ra đời. Tỷ lệ đẻ non trên thế giới ước tính khoảng 11%.
Ở những nước châu Âu, tỷ lệ đẻ non thấp hơn các vùng khác trên thế giới, khoảng 5%, trong khi những nước châu Phi có tỷ lệ đẻ non cao nhất khoảng 18%. Theo thống kê của Việt Nam, năm 2002 có khoảng 180 nghìn sơ sinh non tháng trên tổng số gần 1,6 triệu sơ sinh chào đời, 1/5 số các trẻ sơ sinh non tháng này tử vong.
Tỷ lệ tử vong của nhóm sơ sinh non tháng cao gấp 20 lần nhóm đủ tháng. Chăm sóc và điều trị trẻ non tốn kém hơn rất nhiều về kinh tế và thời gian so với trẻ đủ tháng. Đẻ có thể hạn chế tỷ lệ đẻ non cần có các phương pháp chẩn đoán sớm tình trạng dọa đẻ non để có thể can thiệp kịp thời.
Chẩn đoán dọa đẻ non được đưa ra dựa vào tiêu chuẩn lâm sàng là xuất hiện cơn co tử cung gây đau bụng và làm biến đổi cổ tử cung (xóa hoặc mở). Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, chẩn đoán dọa đẻ non là rất khó khăn vì các triệu chứng nghèo nàn nên chẩn đoán dọa đẻ non chỉ chính xác khi chuyển dạ vào giai đoạn muôn. Hiện nay, có rất nhiều các nghiên cứu khoa học đưa ra các phương pháp thăm dò cận lâm sàng nhằm chẩn đoán chính xác hơn và sớm hơn tình trạng dọa đẻ non. Trong cơ chế đẻ non, CTC sẽ bị biến đổi để làm xóa và mở cổ tử cung. Quá trình xóa mở cổ tử cung đòi hỏi phải biến đổi cấu trúc cổ tử cung từ khối mô liên kết vững chắc thành mô mềm dẻo có thể mở rộng 10cm giúp cho thai nhi thoát ra ngoài khi chuyển dạ. Trong quá trình biến đổi này, rất nhiều tế bào miễn dịch và chất miễn dịch được huy động đến cổ tử cung để ly giải các mô liên kết ở đây. Một trong các chất miễn dịch quan trọng là interleukin-8 (IL-8). Do đó, nếu có thể phát hiện sự tăng lên sớm của IL-8 tại CTC thì chúng ta có thể chẩn đoán sớm dọa đẻ non để có thể can thiệp kịp thời, mang lại kết quả điều trị tốt hơn cho thai phụ và trẻ sơ sinh.
Từ tháng 1/2014 đến tháng 12/2014, nhóm tác giả nghiên cứu Đỗ Tuấn Đạt cùng cộng sự Bộ môn Phụ sản – trường Đại học Y Hà Nội; Bệnh viện đa khoa Tâm Anh; Học viện Quân y thực hiện nghiên cứu mô tả tiến cứu, phân tích báo cáo đề tài “Khảo sát nồng độ interleukin trong dịch cổ tử cung của thai phụ dọa đẻ non và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện Phụ sản Trung ương”.

Đối tượng nghiên cứu là 134 sản phụ có dấu hiệu dọa đẻ non được nhập viện điều trị tại khoa sản bệnh lý Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 1/2014 – tháng 12/2014. Các sản phụ có tuổi thai từ 28-34 tuần đồng ý tham gia nghiên cứu và không có các tiêu chuẩn loại trừ được chọn vào nghiên cứu.
Các tiêu chuẩn loại trừ là: sản phụ mắc các bệnh lý nội khoa cấp và mạn tính, có sẹo mổ cũ vào tử cung; tử cung dị dạng; u xơ tử cung, u buồng trứng,…; có tiền sử can thiệp vào cổ tử cung như cắt cụt, khoét chóp cổ tử cung, rau tiền đạo, rau bong non, đa ối, thiểu ối, sản phụ đang bị rỉ ối, vỡ ối, ra máu âm đạo; các bệnh nhân chủ động đình chỉ thai nghén; thai nhi có các dị tật bẩm sinh.
Tác giả nghiên cứu cho biết, có 134 sản phụ khi khám thai định kỳ xác định có cơn co tử cung được nhập viện điều trị dọa đẻ non và tiến hành lấy mẫu dịch CTC. Sau đó 134 sản phụ này được dùng các thuốc giảm cơn co tử cung và theo dõi đến khi chuyển dạ đẻ. Các mẫu dịch CTC được làm xét nghiệm định lượng nồng độ IL-8. Theo dõi các thai phụ cho đến khi hoàn thành cuộc chuyển dạ đẻ, hoặc đến khi can thiệp thủ thuật hoặc mổ lấy thai, cuối cùng tổng hợp thông tin từ cuộc chuyển dạ, kèm theo các kết quả xét nghiệm về IL-8, từ đó xác định nồng độ IL-8 và một số yếu tố liên quan.
Tác giả nghiên cứu có kết luận nồng độ IL-8 dịch CTC trong nhóm thai phụ dọa đẻ non là 23,71+11,53pg/ml. Nồng độ IL-8 dịch CTC không phụ thuộc vào tuổi mẹ, tuổi thai, không phụ thuộc vào tình trạng viêm CTC và nồng độ CRP huyết thanh mẹ. nồng độ IL-8 dịch CTC liên quan chặt chẽ tới chiều dài CTC, thời gian giữ thai 7 ngày và 14 ngày. Nồng độ IL-8 không phụ thuộc vào thời gian giữ thai sau 14 ngày. Định lượng nồng độ IL-8 là một thăm dò không xâm lấn, liên quan chặt chẽ đến thời gian giữ thai và có thể được sử dụng để tiên lượng khả năng đẻ non.
Văn Hanh