Chấn thương sọ não (CTSN) là bệnh rất hay gặp trong thực hành lâm sàng. Số lượng bệnh nhân rất lớn, điều trị tốn kém, di chứng và tử vong cao.

Trong hơn 2 thập kỷ qua, cùng với những nghiên cứu mới về sinh lý bệnh CTSN và tiến bộ trong công nghệ, ngành y tế đã áp dụng nhiều phương pháp mới trong chẩn đoán và điều trị CTSN và giảm bớt tỷ lệ di chứng cũng như tỷ lệ tử vong sau CTSN.
Theo dõi áp lực nội sọ được cân nhắc ở tất cả các bệnh CTSN nặng (Glasgow < 8đ), đặc biệt khi có bất thường ban đầu trên phim CT-Scan sọ não. Đặt catether đo áp lực nội sọ (ICP) xâm lấn cho kết quả chính xác nhất về áp lực nội sọ, là tiêu chuẩn vàng cho chẩn đoán tăng áp lực nội sọ. Tuy nhiên, phương pháp này có một số chống chỉ định như: bệnh nhân bị rối loạn đông máu, vỡ lún sọ rộng hoặc nhiễm trùng vùng đặt catheter…, biến chứng chảy máu thường gặp nhất với tỷ lệ là 1% với phương pháp đặt trong nhu mô não và 5% khi đặt vào não thất, hơn nữa catheter không lưu được lâu do nguy cơ viêm màng não. Thực tế cho thấy có một số trường hợp sau khi đặt catheter áp lực nội sọ thấp trong suốt quá trình điều trị, điều này làm tăng nguy cơ và tốn kém cho người bệnh. Hiện nay vẫn chưa có phương pháp theo dõi áp lực nội sọ không xâm lấn nào đáng tin cậy. Theo một số tác giả trên thế giới, chỉ số mạch đập của siêu âm Doppler xuyên sọ có mối tương quan với áp lực nội sọ. Do đó ở một số trung tâm hồi sức thần kinh trên thế giới đã sử dụng chỉ số mạch đập trên của máy siêu âm như một công cụ để sàng lọc bệnh nhân có áp lực nội sọ cao và gián tiếp đánh giá áp lực nội sọ, đặc biệt trong những trường hợp có chống chỉ định đặt áp lực nội sọ xâm lấn. Thực tế ở các đơn vị hồi sức tích cực tại Việt Nam còn chưa có phương tiện không xâm lấn theo dõi và đánh giá khách quan những thay đổi áp lực và dòng máu trong não của bệnh nhân CTSN nặng để có phác đồ điều trị phù hợp cho từng thời điểm.
Từ tháng 5/2012 đến tháng 2/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Lưu Quang Thùy cùng cộng sự Trung tâm gây mê hồi sức – Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức nghiên cứu báo cáo đề tài “Mối tương quan của chỉ số mạch đập trên siêu âm Doppler xuyên sọ và áp lực nội sọ ở bệnh nhân chấn thương sọ não nặng”.

Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang; tiêu chuẩn chọn bệnh nhân là từ 16 tuổi trở lên bị CTSN nặng (Glasgow < 8 điểm sau khi đã hồi sức), có CT-Scan bất thường hoặc CT-Scan bình thường nhưng có > một tiêu chuẩn: lớn hơn 40 tuổi, duỗi cứng chi. Được đặt ICP và làm TCD. Được đặt nội khí quản, thở máy thông khí hợp lý.
Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân: Bệnh nhân đa chấn thương nặng với thang điểm ISS > 25 điểm; phụ nữ có thai; bệnh nhân CTSN nhưng chưa làm đủ 3 lần siêu âm Doppler xuyên sọ; Bệnh nhân CTSN có kèm theo rối loạn đông máu, thiếu máu (hemoglobin dưới 80g/l), bệnh van tim, giang mai, HIV, u não… Bệnh nhân có dấu hiệu chết não: đồng tử hai bên giãn cực đại mất phản xạ ánh sáng, mất phản xạ ho. Tình trạng huyết động không ổn định (nếu có phải điều chỉnh trước đó), huyết áp tối đa < 90mmHg, đang dùng các thuốc vận mạch liều cao; Các bệnh lý nội khoa có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu (bệnh tim phổi mạn tính, tim bẩm sinh); Bệnh nhân bị rối loạn đông máu hoặc không đặt được catheter đo áp lực nội sọ; Gia đình không đồng ý tham gia nghiên cứu.
Bác sĩ Thùy có kết luận nghiên cứu, có sự tương quan tuyến tính cao giữa chỉ số mạch đập trên siêu âm Doppler xuyên sọ và áp lực nội sọ đo được qua catheter ở ngày thứ nhất và ngày thứ 5 sau chấn thương. Sự tương quan này giảm theo đến ngày thứ 10 thì tương quan thấp. Ở mức áp lực nội sọ cao trên 20mmHg có sự tương quan chặt chẽ giữa chỉ số mạch đập và áp lực nội sọ.
Huy Hoàng