[Đăng ngày: 30/04/2016]

Hiện nay, do chưa có thuốc điều trị và vắc xin phòng bệnh về HIV/AIDS nên các quốc gia trên thế giới vẫn đang tập trung triển khai các hoạt động giảm tác hại mang tính chiến lược như chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuống Methadone can thiệp dự phòng trong nhóm  nghiện chích ma túy nhằm hạn chế sự lây lan HIV ra cộng đồng.

Vừa qua, tác giả Bùi Thị Nga – Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe Hà Nội cùng các cộng sự đã tiến hành đề tài “Nghiên cứu hiệu quả chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone dự phòng lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy tại Hà Đông và Từ Liêm, Hà Nội năm 2012-2013.

Đối tượng nghiên cứu là nam giới từ 18 tuổi trở lên, tiêm chích ma túy theo đường tĩnh mạch, đang sống tại thành phố Hà Nội, tự nguyện tham gia nghiên cứu giai đoạn 2012-2013.

Theo tác giả Bùi Thị Nga, kết quả nghiên cứu cho thấy sau can thiệp, nhận thức của người nghiện chích ma túy về HIV/AIDS đã được cải thiện đáng kể . Tỷ lệ trả lời đúng tăng từ 93,5% lên 98,1% với p = 0,000 và chỉ số hiệu quả (CSHQ) đạt 4,9%. Tỷ lệ trả lời sai giảm từ 3,0% xuống còn 0,8% với p = 0,022 và CSHQ đạt 73,3%. Từ nhận thức đúng người nghiện chích ma túy đã có sự chuyển biến về thay đổi hành vi dự phòng lây nhiễm HIV: tỷ lệ trả lời đúng các câu hỏi về kiến thức sau can thiệp đã được tăng lên. Tỷ lệ cho rằng quan hệ tình dục chung thủy làm giảm nguy cơ nhiễm HIV từ 95,8% lên 100% với p = 0,000 và CSHQ đạt 4,4%. Do vậy, nhìn nhận của gia đình và bản thân người nghiện ma túy đã có sự chuyển đổi, không còn phổ biến sự sợ hãi và khinh miệt, mà đã có những cảm thông, chấp nhận và hỗ trợ. Tuy nhiên, để tiến tới xóa bỏ sự xa lánh của gia đình đối với người nghiện ma túy, đòi hỏi chương trình phòng chống AIDS cần phải tuyên truyền sâu rộng hơn nữa ở tất cả các cấp và mọi nơi, mọi lúc về vấn đề chống kỳ thị phân biệt đối xử với người nghiện chích ma túy.

So với trước can thiệp, tỷ lệ người nghiện chích ma túy hiểu đúng hành vi làm lây nhiễm HIV của mình, cụ thể: hành vi tiêm chích ma túy tăng từ 64,3% trước can thiệp lên 92,8% sau can thiệp với p = 0,000 và CSHQ đạt 44,3%. Các hành vi khác còn lại như quan hệ tình dục không dùng bao cao su lại giảm từ 8,3% xuống 5,5%, nhiều bạn tình từ 8,5% xuống 3,6% với p = 0,036 và CSHQ đạt. Nếu người nghiện chích ma túy không nhận thức đúng về hành vi nguy cơ lây nhiễm của bản thân thì điều đó sẽ dẫn đến bản thân không biết cách dự phòng hay không xây dựng được kế hoạch giảm tác hại cho mình. Điều này đòi hỏi phải tiếp tục tăng cường truyền thông, tư vấn thay đổi hành vi để có sự tương xứng giữa nhận thức đúng và có hành vi tích cực trong dự phòng lây nhiễm HIV.

Đối với đánh giá sự thay đổi về hành vi, tình trạng sức khỏe, kết quả nghiên cứu cho thấy xét nghiệm nước tiểu tìm ma túy trong 30 ngày gần nhất cho thấy hiệu quả về giảm tỷ lệ sử dụng ma túy trước và sau can thiệp: Tỷ lệ bệnh nhân có kết quả xét nghiệm dương tính với ma túy trong 30 ngày gần nhất đã giảm từ 9,2% xuống 4,4%, CSHQ đạt 51,1%. Không chỉ giảm nhanh và mạnh về tỷ lệ phần trăm bệnh nhân còn tiếp tục tiêm chích, nghiên cứu cũng cho thấy có sự giảm rõ rệt về tần suất tiêm chích trên những bệnh nhân hiện vẫn còn sử dụng hêroin. Số lần trung bình sử dụng hêroin hàng ngày của các bệnh nhân tham gia điều trị Methadone trong giai đoạn dò liều trước và sau can thiệp đã giảm rõ rệt theo thời gian: Hiệu quả thay đổi tần suất sử dụng hêroin ở giai đoạn điều trị duy trì năm 2012 so với năm 2013 đã giảm đi đáng kể, từ 0,35 lần/ngày xuống 0,23 lần/ngày.

Tác giả nghiên cứu cũng nhấn mạnh sự quan tâm hỗ trợ của gia đình, cộng đồng về chăm sóc dinh dưỡng đối với bệnh nhân nên sau can thiệp tỷ lệ được cải thiện về cân nặng đã tăng từ 53,8% lên 98,6% với p = 0,000 và CSHQ đạt 83,3%. Về tỷ lệ bệnh nhân tham gia điều trị tự đánh giá có chất lượng cuộc sống tốt tăng từ 54,3% lên 69,6% với p = 0,000 và CSHQ đạt 28,2%. Đảm bảo dinh dưỡng tốt sẽ giúp cho những người nghiện chích ma túy tham gia điều trị duy trì được tình trạng sức khỏe khá hơn. Từ kết quả nghiên cứu trên đây cho thấy Chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone đã bước đầu đạt hiệu quả nhất định, nhưng cần được tăng cường và duy trì trong thời gian dài và thực tế cho thấy phải có một chương trình can thiệp chăm sóc hỗ trợ toàn diện và triển khai đồng bộ trên địa bàn thì mới có hiệu quả cao.

Về vấn đề thay đổi việc làm: trước khi tham gia điều trị, có đến 41,0% đối tượng thất nghiệp hoàn toàn, sau can thiệp, tỷ lệ bệnh nhân thất nghiệp đã giảm xuống còn 8,9%; tỷ lệ có việc làm tăng từ 59,0% trước can thiệp lên 91,1% sau can thiệp với p = 0,000 và CSHQ đạt 54,4%. Mặc dù vậy, trong số đối tượng có việc làm bao gồm việc làm ổn định và việc làm không ổn định cũng có thể bị mất việc bất cứ lúc nào nếu bệnh nhân còn nghiện ma túy. Việc làm là một vấn đề lớn và phụ thuộc nhiều vào yếu tố xã hội khác nhau, trong đó thời gian đóng vai trò quan trọng. Sau can thiệp, tỷ lệ bệnh nhân có việc làm tăng gấp đôi từ thất nghiệp chuyển sang có việc làm, đây cũng là một tín hiệu rất tốt giúp cho bệnh nhân có cuộc sống ổn định và tránh xa ma túy.

Đối với đánh giá mức độ hài lòng của nhóm nghiện chích ma túy đang điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone, kết quả nghiên cứu cho thấy mong muốn/nhu cầu của bệnh nhân tham gia điều trị Methadone về chất lượng thái độ làm việc của cán bộ y tế là rất lớn và với nhiều nội dung kết quả nghiên cứu năm 2013 so với năm 2012 cho thấy, sự thay đổi mức độ rất hài lòng của bệnh nhân với thái độ làm việc của cán bộ y tế trước và sau can thiệp: tỷ lệ bệnh nhân rất hài lòng về thời gian tiếp đón đã tăng lên từ 0,3% lên 2,2%, tỷ lệ hài lòng với thái độ làm việc của bác sĩ tăng từ 0,3% lên 5,0%; thái độ nhân viên cấp phát tăng từ 0,3% lên 1,9%; thái độ nhân viên tư vấn tăng  từ 0,3% lên 5,2%; thái độ nhân viên xét nghiệm tăng từ 0,3% lên 1,9%.

Trước can thiệp vẫn còn một số tỷ lệ đáng kể bệnh nhân chưa hài lòng với chất lượng dịch vụ như: về thời gian chờ đợi là 7,0%; chất lượng điều trị là 5,3%; thái độ phục vụ, chất lượng khám, chất lượng tư vấn đều là 5,0%. Sau can thiệp tất cả các tỷ lệ đã giảm xuống còn 0,0%. Sau một thời gian điều trị, bệnh nhân cũng đã thích nghi dần với việc hàng ngày phải đến cơ sở điều trị để uống thuốc và tỷ lệ cho rằng không phiền hà khi phải đến cơ sở tăng từ 23,5% lên 29,0%. Tuy nhiên, vẫn còn 0,6% cho rằng việc phải đến cơ sở uống thuốc hàng ngày là phiền hà và rất phiền là do bệnh nhân có thể bận đi làm xa nên không đến uống thuốc kịp giờ mở cửa của cơ sở điều trị và còn khoảng 1,3% bệnh nhân cho rằng thời gian dò liều là chưa thích hợp, kéo dài nên bệnh nhân tiếp tục có các biểu hiện của hội chứng cai./.

 Nguyên Khải

 

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 29

Số lượt truy cập: 9378186

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang