
Từ tháng 01/2015 đến tháng 12/2015, tác giả Phạm Thị Ngọc Thảo – Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh đã tiến hành nghiên cứu “Đặc điểm các trường hợp phẫu thuật cấp cứu sinh mạng tại phòng mổ khoa cấp cứu Bệnh viện Chợ Rẫy”.
Có 31 bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu, tuổi trung bình là 38,7; nam giới chiếm tỷ lệ 80,6%; nguyên nhân chấn thương tai nạn giao thông 24 ca (77,4%); còn lại do đả thương và tai nạn lao động. Phẫu thuật ngoại tổng quát và phẫu thuật tim, mạch máu là hai chuyên khoa thường gặp trong các phẫu thuật cấp cứu sinh mạng chiếm 58,1%. Thời gian từ khi vào khoa cấp cứu đến lúc được đưa vào phòng mổ là 14 phút. Ít nhất là 10 phút, nhiều nhất là 20 phút. Tất cả bệnh nhân đều được siêu âm cấp cứu và xét nghiệm tiền phẫu. Thời gian nằm viện trung bình là 5,4 ngày. Kết quả điều trị có 12 bệnh nhân sống, xuất viện, chiếm tỷ lệ 38,7%. Phần lớn bệnh nhân tử vong tại Phòng mổ cấp cứu hoặc tại thời điểm hậu phẫu.
Theo phân tích của BS Phạm Thị Ngọc Thảo, tất cả các bệnh nhân được phẫu thuật khẩn cấp để cứu sinh mạng đều do tình trạng mất máu nặng. Tình trạng bệnh nhân nguy kịch vừa được hồi sức cấp cứu vừa được phẫu thuật ngay tại khoa Cấp cứu. Do phần lớn bệnh nhân trong nhóm này là do tai nạn giao thông nên có tuổi trung bình tương tự như những nghiên cứu khác ở nhóm bệnh nhân sốc chấn thương hoặc nhóm bệnh nhân tử vong tại cấp cứu do chấn thương. Tỷ lệ nam gấp 4,1 lần nữ. Phần lớn các trường hợp tử vong do chấn thương tại thời điểm cấp cứu là do mất máu không hồi phục và chấn thương sọ não, điều này phù hợp với y văn thế giới. Phần lớn các trường hợp phẫu thuật cấp cứu sinh mạng ở đây chủ yếu là chấm dứt chảy máu trong ổ bụng và vết thương tim, mạch máu lớn chiếm 58,1% tổng số bệnh nhân. Điều này cho thấy tầm quan trọng của các đội phẫu thuật ngoại tổng quát và tim mạch, sẵn sàng phẫu thuật trong các trường hợp cấp cứu sinh mạng. Để thực hiện cứu mạng bệnh nhân trong những tình huống khẩn cấp như thế này, ngoài việc chuẩn bị một ê kíp phẫu thuật viên sẵn sàng phẫu thuật, cần chuẩn bị Phòng mổ cấp cứu sinh mạng tại khoa cấp cứu và một “Quy trình đỏ”. Ở đó, tất cả mọi thủ tục hành chính có thể được bỏ qua. Bệnh nhân sau khi được các bác sĩ cấp cứu tiếp nhận ban đầu đánh giá cần phải phẫu thuật khẩn cấp để cứu mạng thì phải tiến hành vừa làm chẩn đoán, vừa hồi sức và khởi động quy trình gây mê, phẫu thuật. Thường tổng thời gian này chỉ mất từ 10-20 phút mới có hy vọng cứu sống bệnh nhân. Thời gian vàng để cứu sống những bệnh nhân này tính từng phút nên phải được tận dụng triệt để. Tuy nhiên, quyết định trên từng bệnh nhân cụ thể đòi hỏi bản lĩnh, kinh nghiệm của phẫu thuật viên và việc phối hợp nhịp nhàng của bác sĩ cấp cứu, bác sĩ gây mê hồi sức.
Việc ứng dụng rộng rãi siêu âm tại khoa Cấp cứu giúp các bác sĩ cấp cứu có thể ra quyết định nhanh trong trường hợp tính mạng bệnh nhân nguy kịch. Các bác sĩ cấp cứu vừa làm siêu âm, vừa khai thác bệnh sử và thăm khám lâm sàng. Khi cơ chế chấn thương, biểu hiện lâm sàng nghi ngờ các tổn thương đe dọa tính mạng bệnh nhân, siêu âm cấp cứu sẽ là bằng chứng khoa học để các bác sĩ cấp cứu quyết định khởi động quy trình phẫu thuật tại khoa Cấp cứu. Ngoài ra, vai trò của các Trưởng ca thường trực cùng với bác sĩ trực Trưởng hệ ngoại giúp quyết định các trường hợp phẫu thuật khẩn cấp này. Chính vì thế, khi tình trạng bệnh nhân nguy kịch cần phẫu thuật khẩn cấp, thời gian để thăm khám lâm sàng, xét nghiệm cận lâm sàng trong đó có siêu âm cấp cứu và tiền phẫu, chuẩn bị bệnh nhân chỉ mất trung bình khoảng 14 phút.
Tỷ lệ sống còn trong nhóm nghiên cứu là 38,7%. Vì đây là nhóm bệnh nhân rất nặng, vào khoa Cấp cứu trong tình trạng sốc không thể hồi sức bằng nội khoa đơn thuần mà cần phải kết hợp phẫu thuật chấm dứt sự chảy máu ngay lập tức. Tỷ lệ cứu sống bệnh nhân trong nhóm này thấp hơn nhóm bệnh nhân sốc chấn thương nói chung là do tình trạng bệnh nhân trong nhóm này rất nguy kịch. Nếu không được phẫu thuật khẩn cấp tại phòng mổ khoa Cấp cứu, khả năng bệnh nhân sẽ tử vong trên đường vận chuyển đến khoa Phẫu thuật gây mê hồi sức hoặc tử vong trong lúc phẫu thuật. Trong nghiên cứu này, 12 bệnh nhân đã được cứu sống trong năm 2015 nhờ triển khai “Quy trình đỏ”. Tử vong do sốc chấn thương vẫn còn rất cao ngay cả ở những nước phát triển. Tỷ lệ này có khi đến 54% ở những bệnh nhân chấn thương nặng, sốc mất máu nhiều và vào cấp cứu trong tình trạng nguy kịch. Đối với những trường hợp nguy kịch như trong nhóm nghiên cứu này, việc cứu sống được tính mạng con người là vô cùng quan trọng cho thấy hiệu quả của việc triển khai phòng mổ cấp cứu sinh mạng và “Quy trình đỏ” tại cấp cứu. Nếu được cứu sống trong giai đoạn này, phần lớn bệnh nhân ổn định và xuất viện sau đó. Thời gian điều trị trung bình của nhóm bệnh nhân này là 5,4 ngày cũng tương tự như các bệnh nhân chấn thương khác./.
Minh Tâm