
Tỷ lệ mắc cận thị học đường ở học sinh đang gia tăng nhanh chóng. Nguyên nhân được biết đến là một tổ hợp nhiều yếu tố như yếu tố di truyền, môi trường sống và học tập, kiến thức về cận thị của học sinh, cha mẹ học sinh và thầy cô giáo…trong đó kiến thức của học sinh về phòng chống cận thị đóng vai trò quan trọng.
BS Vũ Thị Thanh cùng cộng sự Bệnh viện Mắt Hà Nội tiến hành nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp hạn chế cận thị học đường của học sinh tiểu học, trung học cơ sở”.
Nghiên cứu được tiến hành ở 400 học sinh tại quận Ba Đình và Đông Anh - thành phố Hà Nội. Các bước nghiên cứu gồm khám mắt, thử thị lực, chỉnh kính cho học sinh trước can thiệp. Tiến hành các biện pháp can thiệp gồm tổ chức tập huấn một số kiến thức cơ bản và cách phòng cận thị học đường cho học sinh. Tổ chức giáo dục sức khỏe hướng dẫn sử dụng kính cho học sinh bị cận thị. Hướng dẫn cho học sinh tự xoa mắt và nhìn xa. Kê đơn thuốc hỗ trợ cho học sinh bị cận thị và hướng dẫn chế độ ăn giàu vitamin và khoáng chất cho học sinh. Khám mắt, thử thị lực, chỉnh kính cho học sinh sau can thiệp.
Kết quả của nghiên cứu theo BS Vũ Thị Thanh báo cáo là sau 2 năm triển khai các biện pháp can thiệp thấy tỷ lệ cận thị giảm từ 32,8% xuống 28,0% (chỉ số hiệu quả 14,9%) và thấp hơn so với nhóm không can thiệp (35,5%). Tỷ lệ học sinh đã đeo kính (26,3%) cao hơn so với trước can thiệp (13,0%) và nhóm không can thiệp (18,5%). Tỷ lệ mắc mới cận thị (1,7%) thấp hơn so với trước can thiệp (19,8%) và nhóm không can thiệp (17,0%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001.
Sau can thiệp, tỷ lệ học sinh có thị lực từ ≥8/10 tăng từ 22,9% lên 31,2% (chỉ số hiệu quả 36,5%) và cao hơn so với nhóm không can thiệp (19,0%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01. Mức độ tiến triển của cận thị ở nhóm can thiệp (0,61D/năm) chậm hơn nhóm không can thiệp (0,89D/năm), (p<0,05). Sau can thiệp tỷ lệ học sinh nhược thị giảm từ 8,0% xuống 4,5% (chỉ số hiệu quả 43,8%) và thấp hơn so với nhóm không can thiệp (7,8%).
Sau can thiệp, tỷ lệ học sinh nhận thức đúng về cận thị học đường (73,3%-95%) nhiều hơn so với trước can thiệp (18,5%-39,8%) và cao hơn so với không can thiệp (19,7%-41,0%), (p<0,001). Tỷ lệ học sinh thực hành đúng phòng chống cận thị cũng tăng lên và cao hơn so với nhóm không được can thiệp: thường xuyên kiểm tra thị lực và luyện tập nhìn xa hàng ngày là 76,0% và 81,3% so với nhóm không can thiệp là 7,2% và 14,3%).
Theo phân tích của tác giả nghiên cứu, các biện pháp can thiệp hiệu quả là kích thích học sinh hoạt động ngoài trời trong thời gian nghỉ giải lao. Thường nhóm học sinh không bị cận thị dành nhiều thời gian cho thể thao, hoạt động ngoài trời trong suốt năm học và cũng chú ý là thời gian dành cho thể thao, hoạt động ngoài trời ở cả nhóm cận thị và không cận thị trong quá trình nghỉ hè có thể góp phần làm chậm sự phát sinh, phát triển cận thị ở học sinh.
Để đánh giá ảnh hưởng của các hoạt động nhìn gần và công việc ngoài trời đến sự tiến triển cận thị học đường, một nghiên cứu của Yi J.H. và cộng sự (2011) đã phân chia ngẫu nhiên 80 học sinh (7-11 tuổi) bị cận thị thành 02 nhóm: nhóm can thiệp (n=41) và nhóm chứng (n=39). Học sinh ở nhóm can thiệp thực hiện các hoạt động có tầm nhìn trung bình (xem truyền hình và các hoạt động học tập ngoại khóa), ít hơn 30 giờ/tuần và hoạt động ngoài trời nhiều hơn 14-15 giờ/tuần. Theo dõi trong 2 năm thấy sự tiến triển cận thị trung bình hàng năm (0,38 ± 0,15D) ở nhóm can thiệp ít hơn so với nhóm chứng (0,52 ± 0,19D, p<0,01). Học sinh ở 2 nhóm dành thời gian cho các hoạt động nhìn gần như nhau nhưng các học sinh ở nhóm can thiệp dành ít thời gian hơn cho các hoạt động có tầm nhìn trung bình (p<0,01) và nhiều hơn cho các hoạt động ngoài trời (13,7 ± 2,4 giờ/tuần so với 6,2 ± 1,6 giờ/tuần; p<0,01). Các tác giả nghiên cứu thấy có 4 yếu tố tương quan đáng kể với sự giảm tiến triển cận thị học đường: hoạt động ngoài trời nhiều hơn, dành nhiều thời gian đeo kính, dành nhiều thời gian sử dụng ánh sáng tự nhiên và ít thời gian sử dụng máy tính. Phân tích riêng nhóm can thiệp thấy hoạt động ngoài trời có tương quan nghịch với sự tiến triển cận thị (r = - 2,510; p<0,05).
Năm 2012, trong một nghiên cứu khác, tác giả Nguyễn Thanh Vân cũng đưa ra nhận xét nhược thị do tật khúc xạ có thể gặp ở trẻ em gái cũng như trẻ em trai với tuổi trung bình 6,92 ± 2,85 (6-10 tuổi:49,50%). Nhược thị do tật khúc xạ có thể gặp ở tất cả các hình thái tật khúc xạ, trong đó hay gặp nhất là loạn thị (78,58%) và viễn thị (17,56%), ít nhất là cận thị (3,87%). Độ lệch khúc xạ, hình thái tật khúc xạ, độ loạn thị ≥4D và mức độ nhược thị có mối liên hệ chặt chẽ (p<0,05). Sau can thiệp bằng phương pháp bịt mắt và gia phạt 12 tháng có 57,14%, sau 24 tháng có 65,42% đạt kết quả tốt. Thị giác hai mắt được phục hồi tốt có 97,52% ở mức đồng thị./.
Anh Huy