Escherichia coli (E.coli) có thể gây ra nhiều thể bệnh khác nhau như nhiễm khuẩn đường tiết niệu, tiêu chảy và đặc biệt là nhiễm khuẩn huyết. Hiện nay, tỷ lệ nhiễm khuẩn huyết do E.coli đang ngày càng gia tăng trên toàn cầu và là một trong những nguyên nhân nhiễm trùng có tỷ lệ sốc và tử vong cao.
Vấn đề E.coli đa kháng thuốc đang trở thành mối quan tâm của toàn thế giới. Sự xuất hiện các chủng vi khuẩn gây đa kháng với kháng sinh, do đó công tác điều trị gặp nhiều khó khăn. Việc đánh giá tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn bằng việc xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC-Minimum Inhibitory Concentration) là hết sức cần thiết, giúp cho bác sĩ lâm sàng lựa chọn kháng sinh phù hợp, xác định liều kháng sinh tối ưu để nâng cao hiệu quả điều trị và giảm tỷ lệ vi khuẩn kháng thuốc.
Từ tháng 12/2012 đến tháng 6/2014, nhóm tác giả nghiên cứu Lê Văn Nam, Phạm Văn Ca của Bệnh viện Quân Y 103 và Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương đã tiến hành đề tài “Nghiên cứu biểu hiện lâm sàng và tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết do Escherichia coli tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương và Bệnh viện Quân Y 103”. Nghiên cứu có 2 mục tiêu cụ thể: (1) Mô tả một số biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng của nhiễm khuẩn huyết do E.coli. (2) Khảo sát tình trạng kháng kháng sinh của các chủng E.coli phân lập được.
Theo tác giả nghiên cứu, về quy trình nghiên cứu, bệnh nhân được khám lâm sàng, làm các xét nghiệm thông thường. Kháng sinh đồ được thực hiện bằng cách xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) trên máy tự động Vitek 2 – Compact theo khuyến cáo của “Viện Tiêu chuẩn Lâm sàng và Xét nghiệm (CLSI) năm 2013”.
Về tiêu chuẩn chẩn đoán theo hướng dẫn của “Chương trình toàn cầu về kiểm soát nhiễm khuẩn nặng và sốc nhiễm khuẩn (SSC) năm 2012”.
Báo cáo của nhóm tác giả, kết quả có 56 bệnh nhân đủ điều kiện tham gia nghiên cứu. Trong 56 bệnh nhân, nam chiếm tỷ lệ 66,07%. Nhóm tuổi gặp nhiều nhất là từ 60 tuổi trở lên (33,93%), tiếp theo là nhóm 50 – 59 tuổi (30,35%); tuổi trẻ nhất là 20 và cao tuổi nhất là 93.
Đối với bệnh lý nền hay gặp là xơ gan 23,21%; nghiện rượu 17,86%; đái tháo đường 14,29%; tỷ lệ bệnh nhân có bệnh lý nền là 87,5%. So sánh với một số nghiên cứu của tác giả Trần Minh Quân và cộng sự gặp xơ gan 5,48%; đái tháo đường 6,85% và tác giả Phan Từ Khánh Phương và cộng sự thấy xơ gan 4,2% và đái tháo đường 8,3%.
Đa số bệnh nhân nhập viện trong 5 ngày đầu của bệnh chiếm 71,4%; chỉ có gần 4% nhập viện sau 2 tuần. Về biểu hiện triệu chứng lâm sàng hay gặp nhất là sốt cao (96,4%), tiếp theo là đau bụng (39,6%); khó thở (26,8%); suy hô hấp (21,6%); rối loạn ý thức (25,2%); đái buốt, đái dắt (21,6%) và 26,8% có sốc.
Về kết quả xét nghiệm bạch cầu, số bệnh nhân có bạch cầu tăng là 55,35%; gần 27% bệnh nhân có bạch cầu bình thường và 17% có bạch cầu giảm.
Đối với kết quả sàng lọc chủng E.coli sinh ESBL có 48,21%. Kháng sinh bị kháng có tỷ lệ cao là Ampicillin 85,71%; Trimethoprim/sulfamethoxazole 64,29%; Cephazolin 50%; Ciprofloxacin và Levofloxacin cùng có tỷ lệ bị kháng 35,71%. Các kháng sinh có tỷ lệ nhạy cao như: Doripenem 96,43%; Ertapenem 94,64%; Amikacin 96,43% và Cefepime 89,29%.
Kết luận cho nghiên cứu “Nghiên cứu biểu hiện lâm sàng và tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết do Escherichia coli tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương và Bệnh viện Quân Y 103”, theo tác giả Lê Văn Nam, nam giới gặp nhiều hơn nữ, nam chiếm tỷ lệ 66,07%; nhóm tuổi gặp tỷ lệ cao nhất là 60 tuổi trở lên (33,93%) và tiếp theo 50 – 59 (30,35%). Triệu chứng lâm sàng thường gặp là 96,4% có sốt cao; 39,6% đau bụng; 26,8% khó thở; suy hô hấp 21,6%; 25,2% rối loạn ý thức ở các mức độ; đái buốt, đái dắt (21,6%) và 26,8% có sốc. Đa số bệnh nhân (55,35%) có bạch cầu tăng; 26,79% bạch cầu bình thường và 17,86% có bạch cầu giảm.
Đối với tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn, kháng sinh bị vi khuẩn kháng cao nhất là Ampicillin (85,71%), tiếp theo là Trimethoprim/sulfamethoxazole (64,29%); Cephazolin 50%; Ciprofloxacin và Levofloxacin đều gặp tỷ lệ kháng 35,71%. Những kháng sinh còn tỷ lệ nhạy cảm cao là: Doripenem 96,43%; Ertapenem 94,64%; Amikacin 96,43%; Cefepime 89,29%.
Hữu Lai