[Đăng ngày: 28/04/2016]
Hội chứng Fitz-Hugh-Curtis (FHC) là biến chứng của bệnh lý viêm nhiễm vùng tiểu khung. Hội chứng này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1920 bởi Carlos Stanajo, người đầu tiên mô tả việc dính giữa bao gan vào thành bụng trước ở phụ nữ bị viêm nhiễm sinh dục trước đó và có triệu chứng đau bụng vùng hạ sườn phải. Hội chứng FHC thường biểu hiện đau bụng vùng hạ sườn phải kèm theo những biểu hiện của viêm phần phụ. Việc chẩn đoán dễ nhầm, nếu được chẩn đoán đúng, thì chỉ cần điều trị nội khoa. Ngược lại nếu chẩn đoán sai, bệnh nhân có thể phải chịu một cuộc mổ không cần thiết hoặc có thể để lại những di chứng như đau mạn tính, tắc ruột do dính, vô sinh nếu có viêm vòi trứng … Về cận lâm sàng, FHC có hình ảnh dày bao gan khu trú hoặc lan tỏa kèm theo ngấm thuốc cản quang trên CT ổ bụng có tiêm thuốc.
Hiện nay chưa có một phác đồ riêng nào để điều trị hội chứng FHC, chỉ có phác đồ chung để điều trị nhiễm trùng vùng tiểu khung. Mục tiêu điều trị bệnh nhân FHC hay viêm nhiễm vùng tiểu khung bao gồm làm giảm các triệu chứng cấp tính và giảm thiểu các nguy cơ di chứng lâu dài. Việc lựa chọn kháng sinh phải sử dụng các kháng sinh phổ rộng để bao phủ toàn bộ các căn nguyên phổ biến như chlamydia trachomatis, lậu cầu, cũng như vi khuẩn gram âm, vi khuẩn kỵ khí, streptococci.
Qua theo dõi nghiên cứu những bệnh nhân được chẩn đoán xác định hội chứng FHC bằng chụp cắt lớp vi tính có thuốc cản quang tại khoa Cấp cứu Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, từ tháng 01/2012 đến tháng 4/2015, tác giả Hoàng Bùi Hải và Vũ Đình Hùng, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Hội chứng Fitz-Hugh-Curtis: chẩn đoán và điều trị”. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân tham gia nghiên cứu là những bệnh nhân đến khoa cấp cứu với triệu chứng: Đau bụng; có biểu hiện viêm nhiễm phần phụ như ra khí hư. Cắt lớp vi tính ổ bụng có tiêm thuốc cản quan biểu hiện hình ảnh dày bao gan và ngấm thuốc sau tiêm. Bệnh nhân đã được loại trừ một bệnh lí cấp cứu ổ bụng khác như viêm ruột thừa, viêm túi mật, áp xe gan, viêm manh tràng, viêm bể thận. Tuân thủ phác đồ điều trị. Nằm viện theo dõi cho đến khi hết triệu chứng đau bụng.
Tiêu chuẩn loại trừ là bệnh nhân không theo đầy đủ quá trình điều trị trong đó có cả lí do dị ứng với một trong các thuốc kháng sinh trong phác đồ điều trị: ceftriaxone, metronidazole, doxycyclin. Bệnh án nghiên cứu không có đầy đủ các biến nghiên cứu. Bệnh nhân được chẩn đoán viêm bao gan nhưng không có phim chụp cắt lớp vi tính ổ bụng. Bệnh nhân có hình ảnh dày bao gan trên phim cắt lớp vi tính ổ bụng nhưng kèm theo là dấu hiệu tổn thương nhu mô gan, ống mật (có thể gây chẩn đoán nhầm với viêm bao gan). Bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật ổ bụng trong 6 tháng trước khi được chẩn đoán viêm bao gan vì có thể gây ra hình ảnh cắt lớp vi tính dương tính giả.
Tất cả bệnh nhân trong nghiên cứu đều được điều trị bằng một phác đồ chung bao gồm: ceftriaxon tiêm bắp một liều duy nhất 0,5g + metronidazole uống 1g/ngày + docyxyclin uống 200mg/ngày. Nếu bệnh nhân bị nôn metronidazol được sử dụng đường tiêm cho đến lúc bệnh nhân hết triệu chứng nôn. Sau khi tình trạng lâm sàng của bệnh nhân tiến triển, có thể chuyển sang điều trị thuốc uống. Tổng thời gian điều trị > 2 tuần.
Đánh giá hiệu quả của phác đồ điều trị bao gồm: Thời gian nằm viện tại bệnh viện, thời gian hết đau bụng. Đánh giá tính an toàn của phác đồ: Các biến chứng, tác dụng phụ của thuốc trong thời gian nằm viện.
Thời điểm đánh giá lại lúc ra viện và tái khám sau 2 tuần điều trị. Tại thời điểm tái khám bệnh nhân được khám lâm sàng và chụp cắt lớp vi tính ổ bụng có thuốc cản quang để đánh giá độ dày bao gan.
Đánh giá kết quả điều trị, phác đồ điều trị FHC trong nghiên cứu bước đầu có hiệu quả và an toàn. Tất cả bệnh nhân trong nghiên cứu đều có sự cải thiện về triệu chứng nhanh. Với những bệnh nhân có biểu hiện sốt khi vào viện thì thời gian hết sốt thường chỉ sau 1-2 ngày và sau trung bình khoảng 4 ngày bệnh nhân hết đau bụng và có thể ra viện điều trị ngoại trú. Sau tổng thời gian điều trị nội trú và ngoại trú bệnh nhân được tái khám thì không còn bệnh nhân nào có đau bụng, chỉ còn 2/65 (3,1%) bệnh nhân có dày bao gan, tuy nhiên mức độ ít hơn nhiều so với trước điều trị.
Về tác dụng phụ của thuốc trong quá trình điều trị tại viện, buồn nôn và nôn sau khi uống doxycyclin gặp ở ít bệnh nhân, tuy nhiên ở mức độ nhẹ và không kéo dài, bệnh nhân vẫn có thể tiếp tục duy trì phác đồ điều trị.
      
     Thanh Tùng

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 120

Số lượt truy cập: 9369291

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang