
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, trên thế giới hiện có nhiều nước có tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thấp còi cao. Báo cáo Viện Dinh dưỡng Quốc gia Việt Nam cho biết cứ 3 trẻ suy dinh dưỡng có 1 trẻ suy dinh dưỡng thấp còi dẫn đến hệ quả chiều cao thanh niên nước ta thấp hơn so với các nước trong khu vực. Hiện nay, chiều cao của người Việt Nam ở nam trưởng thành khoảng 163,7cm và nữ 153cm. Việt Nam là nước nhiệt đới nhưng thiếu vitamin D và canxi vẫn được quan tâm, thiếu vitamin D làm giảm mật độ xương và là một yếu tố nguy cơ mắc bệnh lý mạn tính ở trẻ em.
Nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Minh Phương, Nguyễn Phú Đạt cùng cộng sự Trường Đại học Y Dược Cần Thơ và Đại học Y Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu “Mật độ xương, các marker chu chuyển xương của trẻ em từ 6-15 tuổi tại thành phố Cần Thơ”.
Nghiên cứu nhằm hai mục tiêu (1) xác định tỷ lệ giảm mật độ xương, giá trị trung bình của nồng độ vitamin D và một số marker: tạo xương N- tận cùng propeptid của procollagen typ I (P1NP) và marker hủy xương: Carboxyterminal cross-linked telopeptid of typ I collagen (Beta-CTX) ở trẻ thấp còi, thừa cân béo phì tại Tp Cần Thơ. (2) xác định sự thay đổi giá trị vitamin D và mật độ xương ở nhóm trẻ có giảm vitamin D, giảm mật độ xương sau điều trị dự phòng can thiệp bằng canxi và vitmin D.
Nghiên cứu có hai giai đoạn, giai đoạn 1 nghiên cứu mô tả cắt ngang, giai đoạn 2 thử nghiệm lâm sàng có đối chứng. Đối tượng nghiên cứu là học sinh từ 6 đến 15 tuổi học tại trường tiểu học, trung học cơ sở. Thời gian nghiên cứu từ tháng 04/2012 đến tháng 05/2014.
Đối tượng nghiên cứu được chia thành 3 nhóm: nhóm trẻ thấp còi và nhóm trẻ thừa cân, béo phì; nhóm đối chứng là nhóm trẻ bình thường, khỏe mạnh.
Trẻ được đo tỷ trọng khoáng xương (BMD-bone mineral content) tại xương cẳng tay bằng phương pháp DEXA, đơn vị tính g/cm2, nếu Z-scores là < -1 DS kết luận đối tượng có mật độ xương thấp, bình thường > - 1 SD.
Mẫu huyết thanh giữ ở nhiệt độ âm 20 độ C, làm xét nghiệm các marker tại Trung tâm Chẩn đoán Y khoa (MEDIC) TP. Hồ Chí Minh. Nồng độ Total vitamin D đo bằng phương pháp sắc ký lỏng cao áp hiệu năng cao (HPLC): nồng độ vitamin D đầy đủ 25 (OH) D > 20 ng/ml; nồng độ vitamin D thiếu 25 (OH) D từ 15 đến 20ng/ml; nồng độ vitamin D giảm 25 (OH) D < 15ng/ml.
Marker p1NP bình thường 13.9-85.5 ng/ml theo giới và lứa tuổi, được gọi là giảm khi nồng độ P1NP < 16 ng/ml hoặc < -2 SD, β-CTX: bình thường từ 140-580 pg/ml, tăng khi > + 2SD. PTH: định lượng bằng phương pháp miễn dịch điện hóa phát quang (ECLIA) bình thường 16-65 pg/ml, giảm khi < 16 pg/ml.
Trẻ có mật độ xương giảm và vitamin D giảm sẽ được điều trị dự phòng bằng canxi và vitamin D liều theo nhu cầu tương thích với lứa tuổi.
Qua sàng lọc 1.535 quần thể học sinh, chọn được 482 trẻ đưa vào nghiên cứu. Trẻ trai chiếm tỷ lệ 53,11%; nữ chiếm tỷ lệ 46,89%. Trẻ bình thường chiếm tỷ lệ 60,23%, trẻ thừa cân béo phì chiếm tỷ lệ 11,35%, trẻ thấp còi chiếm tỷ lệ 28,42%. Trong số trẻ thấp còi nữ chiếm 53,28% cao hơn nam 46,72% (p> 0,05). Trong số trẻ thừa cân, béo phì nam chiếm 73,34% cao hơn nữ 26,66% (p=0,002). Trẻ thấp còi chiếm tỷ lệ 28,42% nam và nữ lần lượt chiếm tỷ lệ là 46,72% và 53,28%.
Đối với kết quả mật độ xương trung bình phân bố theo nhóm tuổi, giới, trẻ giảm mật độ xương chiếm tỷ lệ 8,32% (40/482), trong đó nữ 37,5% thấp hơn nam (62,5%; p=0,219). Nhìn chung, mật độ xương trung bình ở trẻ trai cao hơn so với trẻ gái, nhưng ở nhóm tuổi từ 14 trở lên mật độ xương của nữ tăng nhiều hơn nam có ý nghĩa thống kê (p=0,02). Mật độ xương giảm của trẻ ở nhóm tuổi 10-11,9 tuổi cao nhất chiếm tỷ lệ 30%, kế đến nhóm từ 14-15,9 tuổi chiếm 27%. Nhóm trẻ thấp còi có mật độ xương giảm là 11,68% cao hơn nhóm trẻ bình thường (6,96%), không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Về vitamin D, kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ vitamin D trung bình 22,57 + 9,19 ng/mL. Nồng độ vitamin D trung bình ở trẻ trai là 24,14 + 9,57 ng/mL cao hơn trẻ gái 20,79 + 8,41 ng/mL, có ý nghĩa thống kê (t= 4,0868, p= 0,0001). Tỷ lệ trẻ có nồng độ vitamin D thiếu, vitamin D giảm, vitamin D bình thường lần lượt là 24,07%; 20,54%; 55,39%.
Nồng độ vitamin D thiếu gặp ở trẻ thừa cân, béo phì (25,86%) nhiều hơn là trẻ thấp còi (21,56%) không có ý nghĩa thống kê (p>0,05), nhưng ở mức nồng độ vitamin D giảm thì ở nhóm trẻ thấp còi (28,28%) cao hơn trẻ thừa cân, béo phì (7,07%) có ý nghĩa thống kê (p=0,000).
Nhóm có mật độ xương thấp có tỷ lệ nồng độ vitamin D giảm cao hơn (22,5%) so với nhóm có mật độ xương bình thường (20,36%), nhưng tỷ lệ nồng độ vitamin D thiếu thì nhóm có mật độ xương bình thường lại cao hơn (24,89%) nhóm có mật độ xương thấp (15%), sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Theo tác giả Nguyễn Minh Phương, sự thay đổi nồng độ vitamin D sau can thiệp, nồng độ vitamin D trung bình ở trẻ trai là 35,81 + 10,32 ng/mL, trẻ gái là 33,80 + 8,54 ng/mL (p>0,05). Nồng độ vitamin D trung bình ở trẻ trai trước can thiệp 24,27 + 9,55 ng/mL thấp hơn sau can thiệp là 35,81+ 10,32 ng/mL (p=0,000).
Mật độ xương sau can thiệp ban đầu là 0,299 g/cm2, sau can thiệp là 0,309g/cm2 (p<0,05). Mật độ xương trung bình của trẻ trai trước và sau can thiệp là 0,317 g/cm2 và 0,325 g/cm2 (p>0,05). Mật độ xương trung bình của trẻ gái trước và sau can thiệp là 0,282 g/cm2 và 0,292 g/cm2 (p<0,05). Mật độ xương trung bình của trẻ ở các nhóm tuổi sau can thiệp tăng nhiều so với nhóm trước can thiệp, đặc biệt nhóm tuổi từ 8 đến 9,9 tuổi; nhóm từ 12 đến 13,9 tuổi và nhóm từ 14 đến 15,9 tuổi gia tăng với mức có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Huy Hoàng