Theo các chuyên gia cấp cứu hồi sức, hội chứng suy hô hấp tiến triển (ARDS) là một tình trạng bệnh lý thường gặp trong hồi sức cấp cứu. ARDS có tỷ lệ tử vong cao.

Tổn thương đặc trưng của ARDS là làm giảm thể tích và độ giãn nở của phổi. Phương pháp thông khí nhân tạo với tư thế nằm sấp trong điều trị bệnh nhân ARDS được áp dụng 40 năm nay. Phương pháp này đã cho thấy sự cải thiện oxy máu, giảm tổn thương phổi do thở máy và giảm tỷ lệ tử vong từ 32,8% xuống còn 16%. Cơ chế nào giúp tư thế nằm sấp có hiệu quả tốt đối với bệnh nhân ARDS. Theo các chuyên gia, tư thế nằm sấp tuy làm giảm đàn hồi của thành ngực phía xương ức nhưng lại làm tăng giãn nở của vùng phổi phía lưng. Ngoài ra, tư thế nằm sấp còn làm giảm đè ép của tim lên phổi, giảm đè ép của các tạng trong ổ bụng lên cơ hoành và tăng bài xuất dịch ra ngoài. Nhờ vậy phương pháp này có tác dụng làm giảm tình trạng căng giãn phế nang ở vùng phổi phía xương ức, hạn chế hiện tượng đóng mở phế nang ở vùng phổi giữa và đặc biệt là làm nở phế nang ở vùng phổi phía lưng, nên làm tỷ lệ thông khí/ tưới máu (V/Q) được đồng bộ hơn các vùng phổi.
Từ tháng 11/2013 đến tháng 1/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Văn Chi cùng cộng sự Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình tiến hành nghiên cứu và báo cáo “Nghiên cứu tác động của tư thế nằm sấp lên cơ học phổi của bệnh nhân thông khí nhân tạo do suy hô hấp tiến triển”.
Theo tác giả nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu là 26 bệnh nhân được chẩn đoán ARDS có PaO2/FiO2 < 150, được điều trị tại Khoa cấp cứu, Khoa Hồi sức tích cực của Bệnh viện Bạch Mai. Định nghĩa Berlin về ARDS năm 2012 được sử dụng để làm tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu. Bao gồm: thời gian tiến triển cấp tính, trong vòng 1 tuần của bệnh hoặc các triệu chứng hô hấp nặng lên hay mới xuất hiện; hình ảnh X-quang phổi: mờ lan tỏa 2 phổi không do tràn dịch hay xẹp phổi; suy hô hấp không do suy tim hay quá tải dịch.Siêu âm tim để loại trừ phù phổi cấp huyết động nếu không có yếu tố nguy cơ.
Tác giả nghiên cứu cho biết, những bệnh nhân không chọn tham gia nghiên cứu là dưới 16 tuổi; PaO2/FiO2 < 150 nhưng đang cải thiện nhanh; bệnh nhân có chống chỉ định tư thế nằm sấp gồm chấn thương sọ não, cột sống hoặc hàm mặt, bệnh nhân gãy xương chậu, xương sườn; sốc hoặc loạn nhịp tim nặng; bệnh nhân đang lọc máu liên tục; phụ nữ có thai.
Tiến hành thông khí nhân tạo tư thế nằm sấp, về thời điểm thực hiện thay đổi tư thế bệnh nhân nằm sấp: trong vòng 24 giờ từ khi bệnh nhân được chẩn đoán là ARDS, đáp ứng đủ tiêu chuẩn lựa chọn.
Thực hiện đo các thông số cơ học phổi trước khi chuyển từ thông khí nhân tạo tư thế nằm ngửa sang tư thế nằm sấp và thời điểm sau khi chuyển sang thông khí nhân tạo tư thế nằm sấp lúc 1 giờ, 6 giờ, 12 giờ và khi chuyển bệnh nhân lại tư thế nằm ngửa. Duy trì thông khí nhân tạo tư thế nằm sấp tối đa từ 16-17 giờ/ngày khi oxy máu cải thiện và không có biến chứng nguy hiểm như tụt huyết áp, ngừng tim; tuột nội khí quản. Sau khi bệnh nhân nằm ngửa trở lại 7-8 giờ thì đánh giá lại tình trạng bệnh nhân; nếu PaO2/FiO2 vẫn trong tiêu chuẩn lựa chọn và không có chống chỉ định thì tiếp tục cho bệnh nhân nằm sấp. Thời gian thực hiện trong vòng 5 ngày (đây là giai đoạn cấp của ARDS).
Dừng thông khí nhân tạo tư thế nằm sấp khi oxy máu không cải thiện sau 3-4 giờ hoặc có biến chứng nguy hiểm như tắc, tuột nội khí quản, ngừng hoàn toàn, tụt huyết áp. Bệnh nhân không còn chỉ định, PaO2/FiO2 > 150 với PEEP < 10; FiO2 < 60%.
BS.Du báo cáo kết quả nghiên cứu, tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 40,8, nam nhiều gấp đôi nữ. Điểm Apache II là 25,2; cao nhất 32, thấp nhế 17. Trong khi nằm sấp, bệnh nhân tiếp tục được thở máy theo hướng dẫn của ARDS Net và điều trị như khi nằm ngửa. Các thông số về cơ học phổi cho thấy sự giãn nở phổi có xu hướng tăng lên sau khi được thông khí nhân tạo tư thế nằm sấp. BS.Du cho rằng tư thế nằm sấp tuy làm giảm giãn nở của lồng ngực phía xương ức nhưng do tăng huy động phế nang ở vùng phổi phía lưng đồng thời giảm đè ép của tim lên phổi cũng như đè ép của các tạng trong ổ bụng lên cơ hoành nên làm cho độ giãn nở của phổi không bị giảm đi mà có xu hướng tăng lên.
Tác giả nghiên cứu cho biết, trước khi nằm sấp, các bệnh nhân có áp lực cao nguyên không tăng lên hoặc giảm đi nên giảm nguy cơ chấn thương phổi do áp lực. Tác giả nghiên cứu cho biết áp lực cao nguyên được giữ ở mức < 30 cmH2O như điều chỉnh Vt và thời gian thở vào. Khi bệnh nhân nằm sấp các thông số thở máy tiếp tục được duy trì như khi bệnh nhân nằm ngửa; sau đó được điều chỉnh theo sự đáp ứng của bệnh nhân. Nhìn chung các thông số thể tích lưu thông, tần số thở, thời gian thở vào không thay đổi nhiều và khi bệnh nhân nằm sấp. Áp lực dương cuối thì thở ra (PEEP) có xu hướng giảm dần; còn nồng độ oxy khí thở vào (FiO2) giảm rõ ngay sau khi bệnh nhân nằm sấp 1 giờ với p<0,01. FiO2 tiếp tục được giảm đi ở các thời điểm tiếp theo và đến khi bệnh nhân được nằm ngửa trở lại.
Mai Trang