[Đăng ngày: 06/09/2017]
Theo các chuyên gia chăm sóc sức khỏe sinh sản, đối với hỗ trợ sinh sản, việc kích thích buồng trứng là quy trình không thể thiếu, nó giúp đạt được số lượng nang noãn và số noãn cần thiết, có nhiều phôi tốt để chuyển phôi và làm tăng tỷ lệ có thai.

Các chuyên gia cho biết, trong kích thích buồng trứng, phác đồ dài và phác đồ ngắn đều cần sử dụng GnRH đồng vận để ngăn ngừa đỉnh LH sớm. Việc lựa chọn phác đồ kích thích buồng trứng còn tùy thuộc vào từng đối tượng bệnh nhân, nếu sử dụng  phác đồ dài sẽ gây ức chế tuyến yên, làm tăng liều sử dụng gonadotropin kích thích buồng trứng, khi đó dùng phác đồ ngắn sẽ là lựa chọn tốt hơn. Các kết quả nhiều nghiên cứu cho thấy, dưới tác động của thuốc kích thích buồng trứng, vẫn có nhiều khả năng đáp ứng kém có thể xảy ra, ngay cả những bệnh nhân dưới 35 tuổi, tỷ lệ này chiếm từ 19%-25%. Việc đáp ứng kém với kích thích buồng trứng làm cho số noãn thu được ít hơn, số phôi ít hơn, tỷ lệ thai lâm sàng cũng thấp hơn so với đáp ứng tốt. Tỷ lệ có thai ở nhóm đáp ứng kém với kích thích buồng trứng nói chung là 9,9%; trong khi ở nhóm đáp ứng bình thường tỷ lệ này là 31,6%.

Từ năm 2009 đến 2011, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Xuân Hợi cùng cộng sự Trung tâm Hỗ trợ Sinh sản Quốc gia- Bệnh viện Phụ sản Trung ương tiến hành nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang, báo cáo đề tài “Kết quả thụ tinh trong ống nghiệm trên bệnh nhân kích thích buồng trứng bằng phác đồ ngắn có số noãn dưới 3”. Mục tiêu nghiên cứu là khảo sát kết quả thụ tinh trong ống nghiệm của các bệnh nhân đáp ứng kém với phác đồ ngắn, bao gồm tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ làm tổ, tỷ lệ có thai lâm sàng. Tác giả nghiên cứu cho biết, đối tượng nghiên cứu là 578 chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm của các bệnh nhân đáp ứng kém với phác đồ ngắn, sau chọc hút noãn có số noãn nhỏ hơn 3. Kích thích buồng trứng bằng FSH tái tổ hợp. Tiêu chuẩn loại trừ các bệnh nhân kích thích buồng trứng bằng các phác đồ khác; các trường hợp cho nhận noãn, các trường hợp tinh trùng được lấy từ phương pháp chọc hút mào tinh. Nghiên cứu được tiến hành theo dõi phát triển nang noãn bằng siêu âm và xét nghiệm nội tiết. Siêu âm nang noãn vào thời điểm ngày 8 đến ngày 12 sau khi tiêm FSH tái tổ hợp. Khi có ít nhất 1 nang noãn có đường kính > 18mm trên siêu âm thì tiêm HCG 5000-10.000 đơn vị để trưởng thành noãn. Chọc hút noãn sau tiêm HCG 35-37 giờ. Thử Bêta HCG 14 ngày sau chuyển phôi để xác định có thai và siêu âm theo dõi sự phát triển của thai.

Tác giả nghiên cứu phân tích báo cáo, nhóm tuổi 35-39 chiếm tỷ lệ cao nhất với 38,8%. Tỷ lệ FSH ngày 3 < 10 nhiều nhất với 79,6%. Tỷ lệ AFC từ 5-10 chiếm 56,5%. Tỷ lệ vô sinh nguyên phát cao hơn vô sinh thứ phát. Nguyên nhân vô sinh do vòi tử cung chiếm 45,3%. Với 578 trường hợp đáp ứng kém với số noãn < 3; tỷ lệ đáp ứng kém trong phác đồ ngắn là 31,3%; tỷ lệ này cao hơn so với đáp ứng kém của phác đồ dài là 11,2%. Tác giả nghiên cứu giải thích do chỉ định sử dụng phác đồ kích thích buồng trứng dựa vào đặc điểm của từng người bệnh. Tại Trung tâm Hỗ trợ Sinh sản- Bệnh viện Phụ sản Trung ương, phác đồ dài áp dụng cho các bệnh nhân trẻ, đánh giá về dự trữ buồng trứng trong giới hạn bình thường (tuổi dưới 35, FSH dưới 10 đơn vị/l; AFC trên 7-10 nang; không bị lạc nội mạc tử cung). Phác đồ ngắn thường chỉ định cho các bệnh nhân lớn tuổi trên 35 tuổi, có bất thường về dự trữ buồng trứng. Phác đồ ngắn là phác đồ sử dụng GnRHa ở pha nang noãn và bắt đầu cùng với FSH. Sự lợi ích phác đồ ngắn là buồng trứng không bị ức chế quá mức và kích thích sản xuất gonadotropin nội sinh là tăng hiệu quả của gonadotropin ngoại sinh. Vì vậy, phác đồ ngắn thường được áp dụng cho bệnh nhân tiên lượng đáp ứng kém.

Tác giả nghiên cứu báo cáo, kết quả bệnh nhân kích thích buồng trứng phác đồ ngắn có tổng liều FSH là 3063,14 cao hơn so với phác đồ dài là 2697; chứng tỏ nhóm bệnh nhân đáp ứng kém ở phác đồ ngắn thì tổng lượng FSH sử dụng nhiều hơn so với phác đồ dài. Có trường hợp đáp ứng kém trong phác đồ ngắn phải dùng tổng liều FSH đến 5400 đơn vị.

Về số ngày tiêm FSH trung bình là 9,37 ngày, ngắn hơn phác đồ dài 10,23 ngày. Liều khởi đầu từ 200-300 đơn vị (47,5%); có 11,5% liều khởi đầu lớn hơn 400 đơn vị. Liều không đổi dựa vào yếu tố tiên lượng đáp ứng kích thích buồng trứng, yếu tố dự trữ buồng trứng như tuổi, nồng độ FSH, số nang thứ cấp, tiền sử đáp ứng với liều thụ tinh trong ống nghiệm trước đó. Tác giả lưu ý, tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc nhiều yếu tố như chất lượng noãn, chất lượng tinh trùng, kỹ thuật thụ tinh phương pháp IVF thường quy hay theo phương pháp tiêm tinh trùng vào bào tương của noãn (ICSI), thụ thuộc vào đặc điểm của từng nguyên nhân vô sinh, phác đồ kích thích buồng trứng. Tỷ lệ làm tổ trong nghiên cứu là 9,19%; thường tỷ lệ làm tổ thấp thì tỷ lệ có thai cũng thấp. Về tỷ lệ có thai lâm sàng trong nhóm đáp ứng kém khá thấp, chỉ có 19,7%. Tác giả giải thích do bệnh nhân được chỉ định kích thích buồng trứng bằng phác đồ ngắn, là những trường hợp giảm dự trữ buồng trứng và đã có những yếu tố nguy cơ với đáp ứng kém với kích thích buồng trứng, do đó kết quả có thai của nhóm đáp ứng kém bằng phác đồ ngắn thường thấp.

Tác giả nghiên cứu có kết luận, tỷ lệ thụ tinh trong nghiên cứu là 81,58%; tỷ lệ làm tổ là 9,19%; tỷ lệ có thai lâm sàng là 19,72%.

Thanh Tùng
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 420

Số lượt truy cập: 9357847

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang