Người bệnh nhược cơ có đặc điểm yếu, nhanh mệt các cơ vân toàn thân khi hoạt động và cải thiện khi nghỉ ngơi. Bệnh có biểu hiện ở cơ vận nhãn như sụp mi, nhìn đôi, đối với cơ vùng hầu họng gây mỏi hàm khi nhai, nuốt khó; khi nặng hơn sẽ làm yếu tứ chi, suy hô hấp.
Theo các chuyên gia gây mê hồi sức, có nhiều trường hợp tình cờ phát hiện bệnh lý nhược cơ ở bệnh nhân sau gây phẫu thuật bởi biến cố như rút nội khí quản thất bại, suy hô hấp trong khi trước đó bệnh nhân chưa được chẩn đoán do bệnh có triệu chứng âm thầm, chính bệnh nhân cũng không chú ý đến.
Tác giả nghiên cứu Lê Viết Hòa cùng các cộng sự Bệnh viện Trung ương Huế báo cáo tại Hội nghị khoa học gây mê hồi sức miền Trung Tây Nguyên 2017 tại TP Nha Trang nghiên cứu “Rút nội khí quản thất bại trên bệnh nhân sau gây mê phẫu thuật u nang giáp móng có bệnh lý nhược cơ tiềm ẩn”.
BS.Lê Viết Hòa cho biết, bệnh nhân nữ 53 tuổi, tiền sử không ghi nhận bệnh lý gì đặc biệt; có chỉ định phẫu thuật u nang giáp móng. Xét nghiệm tiền phẫu trong giới hạn bình thường; bệnh nhân được chỉ định gây mê toàn thân qua nội khí quản. Ở thời điểm thoát mê, bệnh nhân tỉnh táo hoàn toàn và tự thở qua nội khí quản tốt, không có biểu hiện thở gắng sức, oxy hóa máu đảm bảo nên được chỉ định rút nội khí quản. Tuy nhiên, sau rút nội khí quản xuất hiện kích thích, biểu hiện tắc nghẽn đường thở trên; bệnh nhân có âm thở rít khi hít vào, phản xạ ho sặc kém, suy hô hấp, xử trí phải đặt lại nội khí quản, chuyển bệnh nhân về đơn vị hồi sức sau phẫu thuật thông khí nhân tạo hỗ trợ. Tìm kiếm nguyên nhân, phẫu thuật viên loại trừ khả năng tổn thương dây thần kinh quặt ngược; xét nghiệm điện giải không rối loạn; lâm sàng và X-quang ngực không có tràn khí màng phổi. Khai thác kỹ tiền sử bệnh nhân qua người thân phát hiện đã lâu bệnh nhân thỉnh thoảng than phiền về tình trạng sụp mí mắt, nhìn đôi, cảm giác nuốt nghẹn thoáng qua. Kíp mổ hội chẩn với bác sĩ chuyên khoa thần kinh, điều trị bệnh nhân các thuốc Mestinon, Prostigmin, Methylprednisolon. Sau 1 tuần điều trị, bệnh nhân được tập cai máy thở, có thể tự thở tốt qua nội khí quản và sau đó được rút nội khí quản, chức năng hô hấp đảm bảo tốt. Kết quả chụp cắt lớp CT Scan lồng ngực không có hình ảnh nghi ngờ u tuyến ức. Sau khi ổn định, bệnh nhân được chuyển đến khoa nội thần kinh để tiếp tục điều trị.
BS. Lê Viết Hòa phân tích, bệnh nhược cơ là bệnh có tần suất mắc 50-142/ 1 triệu dân. Trong giai đoạn sớm của bệnh triệu chứng thường thoáng qua, trong khi thời gian không triệu chứng kéo dài hàng tuần đến hàng tháng làm bệnh nhân ít chú ý đến. Cơn nhược cơ có thể khởi phát do các yếu tố như stress, gây mê phẫu thuật, mang thai, nhiễm trùng hay chấn thương hoặc do thuốc sử dụng. Nguyên nhân do cơ thể sản xuất tự kháng thể kháng receptor acetylcholine nicotinic tại synap thần kinh cơ dẫn đến giảm số lượng các receptor chức năng bằng cách ức chế cạnh tranh, tăng thoái hóa receptor hoặc gây tổn thương màng khớp nối thần kinh. Bệnh điều trị bằng thuốc kháng cholinesterase, thuốc ức chế miễn dịch, lọc huyết tương, truyền tĩnh mạch globulin miễn dịch.
Nhược cơ có liên quan đặc biệt với gây mê khi mà nó ảnh hưởng đến khớp nối thần kinh cơ lại là vị trí hoạt động của nhiều thuốc hay được sử dụng trong gây mê, đặc biệt là thuốc giãn cơ. Sự nhạy cảm với thuốc giãn cơ không khử cực đã được ghi nhận ở những bệnh nhân nhược cơ không có biểu hiện lâm sàng và làm khởi phát bệnh. Cơn nhược cơ được xác định với suy hô hấp hoặc sự chậm trễ rút nội khí quản sau mổ trên 24 giờ, do sự suy yếu của cơ đường thở trên dẫn đến tắc nghẽn và sặc hoặc sự suy yếu cơ hô hấp dẫn đến giảm thể tích sống hoặc do yếu cả hai nhóm cơ.
BS. Hòa cho biết, dưới tác động của gây mê phẫu thuật, thuốc giãn cơ được sử dụng đã làm xuất hiện bệnh, biểu hiện yếu cơ ưu thế ở cơ vùng hầu họng, bệnh nhân không thể tự duy trì sự thông thoáng đường thở, sau rút nội khí quản biểu hiện tắc nghẽn đường thở trên với âm thở rít khi hít vào, phản xạ ho sặc kém, ứ đọng đờm giải gây suy hô hấp, phát âm khó khăn. Sự suy yếu cơ làm bệnh nhân không dung nạp được khi rút ống nội khí quản và nguy cơ hít sặc cao. Khi được điều trị theo hướng nhược cơ, thuốc ảnh hưởng đến khớp nối thần kinh cơ và tình trạng suy hô hấp sau phẫu thuật. Cần sử dụng thận trọng, tránh sử dụng thuốc tác dụng kéo dài, cần giảm liều 25-75%, theo dõi chặt chẽ bằng máy đo độ giãn cơ. Duy trì mê cho phẫu thuật có thể sử dụng thuốc mê hơi. Thuốc giảm đau nhóm opioid ở liều giảm đau không gây ảnh hưởng đến sự dẫn truyền thần kinh cơ, tuy nhiên cần chú ý sự ức chế trung tâm hô hấp.
Mai Trang