{1}
##LOC[OK]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
Trang chủ
Văn bản pháp luật
Văn bản Sở Y tế
Thủ tục hành chính
Danh mục TTHC của Sở Y tế
Cơ sở thực hành đào tạo
Văn kiện - Tài liệu
Hỏi/Đáp
Giới thiệu
Giới thiệu chung
Cơ cấu tổ chức
Chức năng, nhiệm vụ
Quy hoạch phát triển Y tế
Thành tựu
Quá trình hình thành và phát triển
Quản lý lĩnh vực Y tế
Lĩnh vực Y
Lĩnh vực Dược
An toàn vệ sinh thực phẩm
Dân số KHHGĐ/SKSS
Bảo hiểm Y tế
Kết quả thủ tục hành chính
Giải quyết khiếu nại, tố cáo
Thống kê Y tế
Xã hội hóa Y, Dược tư nhân
Phòng chống dịch
Bảo trợ - Xã hội
Thông tin hành nghề
Hành nghề Y tư nhân
Hành nghề Dược tư nhân
An toàn vệ sinh thực phẩm
Tin tức - sự kiện
Y tế cơ sở
Chương trình mục tiêu
Đào tạo
Nghiên cứu khoa học
Giáo dục sức khỏe
Mô hình, sáng kiến, kinh nghiệm
Cải cách hành chính
Danh mục TTHC SYT
Quy định, Chỉ đạo, Đề án
Chương trình, Kế hoạch
Tin bài, hoạt động
Báo cáo, thống kê, xếp hạng
Chuyển đổi số ngành Y tế
Nâng lực cạnh tranh (PCI)
Gương điển hình tiên tiến
Chỉ số phục vụ của SYT
Dự án đầu tư, mua sắm
Dự án
Thông tin đấu thầu
Mua sắm
Tuyên truyền VBQL-PL
Văn bản QPPL Nhà nước
Văn bản QPPL Y tế
Văn bản Sở Y tế
Công tác khác
Văn thư lưu trữ
Công khai ngân sách
Hệ thống QLCL TCVN 9001:2008
Lịch công tác tuần
Dân hỏi
Điều động, bổ nhiệm
Liên kết website
Chọn website
Thu thập số liệu mắt hột
Chỉnh phủ
Tỉnh Khánh Hoà
Sở Giáo Dục
Cục Y tế dự phòng
Cục Quản lý Khám chữa bệnh
Cục xúc tiến thương mại
Thị trường nước ngoài
Thương mại điện tử
Báo Người lao động
Báo Thanh niên
Sử dụng năng lượng tiết kiệm
Sở Kế Hoạch Đầu Tư
BQL Khu Kinh Tế Vân Phong
Đề tài khoa học
Nhận xét đặc điểm lâm sàng bệnh nhân lọc màng bụng
[Đăng ngày: 20/10/2016]
Khi người bệnh thận mạn ở giai đoạn cuối, thận mất khả năng bài tiết các chất được sinh ra từ quá trình chuyển hóa, mất khả năng điều chỉnh cân bằng nội môi dẫn đến tích tụ các độc chất, nước và điện giải trong cơ thể người bệnh gây ra tổn thương nhiều cơ quan, dẫn đến một loạt những biến loạn về sinh hóa cũng như lâm sàng của các cơ quan trong cơ thể.
Các biện pháp điều trị thay thế như lọc màng bụng, chạy thận nhân tạo, ghép thận cải thiện được tình trạng tăng urê, creatinin máu ở những bệnh nhân này, tuy nhiên một số các rối loạn khác trên lâm sàng và cận lâm sàng vẫn không được giải quyết triệt để đòi hỏi phải có điều trị song song giữa lọc máu và điều trị các triệu chứng biến chứng kèm theo: thiếu máu, tăng huyết áp, phù… nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của các bệnh nhân bị bệnh thận giai đoạn cuối.
Vừa qua, nhóm tác giả nghiên cứu Đặng Thị Việt Hà, Đỗ Gia Tuyển, Bộ môn Nội tổng hợp Trường Đại học Y Hà Nội tiến hành đề tài nghiên cứu: “Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân lọc màng bụng tại Bệnh viện Bạch Mai”.
Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân bệnh thận mạn tính giai đoạn cuối, có mức lọc cầu thận < 15ml/ph được điều trị thay thế bằng phương pháp lọc màng bụng liên tục ngoại trú tại Khoa Thận Tiết niệu Bệnh viện Bạch Mai, tuổi ≥ 16. Tiêu chuẩn loại trừ, các bệnh nhân đang bị nhiễm trùng cấp tính hoặc các bệnh lý ác tính. Các tiêu chuẩn áp dụng trong nghiên cứu, tiêu chuẩn chẩn đoán thiếu máu: KDIGO 2012; tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết áp theo JNCVII (2003).
Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang, tất cả đối tượng nghiên cứu được hỏi bệnh, khám lâm sàng phát hiện các triệu chứng phù, thiếu máu, tăng huyết áp, tê bì, ngứa, đau mỏi các khớp… Đánh giá chức năng thận tồn dư theo số lượng nước tiểu 24 giờ, mất chức năng thận tồn dư khi nước tiểu < 200ml/24 giờ. Đánh giá số lượng dịch dư được tính bằng tổng lượng dịch dẫn lưu ra sau khi ngâm – tổng lượng dịch cho vào ổ bụng trong 24 giờ (tổng 4 lần ngâm dịch). Xét nghiệm đánh giá công thức máu, sinh hóa máu: urê, creatinin, đường acid uric, protit, albumin, canxi, phospho, PTH, mỡ máu, sắt, ferritin, transferin, protein niệu.
Theo phân tích của tác giả Đặng Thị Việt Hà, tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 43,6 ± 12,9 tuổi. Bệnh nhân dưới 60 tuổi chiếm 88,9%. Nhóm tuổi 30-39 có tỷ lệ cao nhất 29,8% là lứa tuổi lao động chính. Tỷ lệ nam/nữ là 1,36/1 cho thấy bệnh nhân nam nhiều hơn bệnh nhân nữ.
Theo tác giả nghiên cứu, tuổi đối tượng nghiên cứu này thấp hơn tuổi trong các nghiên cứu nước ngoài. Sự khác biệt này được giải thích bởi nguyên nhân gây bệnh thận mạn tính của nước ta chủ yếu do viêm cầu thận mạn, viêm thận bể thận mạn, khác với nguyên nhân bệnh thận của các nước trên thế giới thường do đái tháo đường và tăng huyết áp. 73,7% bệnh nhân trong nghiên cứu là viêm cầu thận mạn. Mặt khác, bệnh nhân thận ở nước ta thường tiềm tàng, ít được phát hiện và điều trị sớm. Trong nghiên cứu có tới 23,2% bệnh nhân có BMI < 18,5, vì vậy cần tư vấn về chế độ dinh dưỡng, chống nhiễm trùng để nâng cao về thể chất cho bệnh nhân lọc màng bụng (LMB).
Tăng huyết áp vừa là nguyên nhân đồng thời cũng là biến chứng thường gặp ở bệnh nhân bệnh thận mạn. Có khoảng 29% đến 80% bệnh nhân LMB có tăng huyết áp. Biến chứng tim mạch là nguyên nhân phổ biến gây tử vong trong nhóm bệnh nhân LMB và tăng huyế áp đóng một vai trò quan trọng. Nguyên nhân gây tăng huyết áp là do tình trạng quá tải thể tích ngoại bào do chức năng thận tồn dư thấp và khả năng siêu lọc của màng bụng hạn chế; do tăng hoạt tính hệ thống Renin-Angiotensin-Aldosterol làm co mạch cộng thêm do cường cận giáp… gây nên. Nhóm nghiên cứu nhận xét tỷ lệ tăng huyết áp là 56,58% gồm cả những bệnh nhân đã dùng thuốc hạ áp. Tỷ lệ này cao chúng tỏ cần phải điều trị tốt hơn nữa huyết áp để phòng các biến chứng nặng nề. Tỷ lệ phù là 45,5%. Dấu hiệu phù cũng thường đi kèm với số lượng nước tiểu giảm và khả năng siêu lọc cũng giảm theo thời gian do màng bụng xơ hóa do tiếp xúc với glucose hoặc do các đợt viêm phúc mạc. Chức năng thận tồn dư là một yếu tố dự báo về kết quả đối với bệnh nhân lọc máu đặc biệt quan trọng đối với bệnh nhân lọc màng bụng. Chức năng thận tồn dư được đánh giá thông qua số lượng nước tiểu trong 24 giờ của bệnh nhân.
Tác giả cũng phân tích, kết quả nghiên cứu có 51,5% bệnh nhân có nước tiểu dưới 200ml/giờ và tống dịch ra, 750ml ở 17,2% bệnh nhân, chứng tỏ chức năng thận tồn dư vẫn tiếp tục giảm trong quá trình điều trị thay thế bằng phương pháp LMB. Viêm phúc mạc là biến chứng thường gặp, là nguyên nhân phổ biến nhất của LMB thất bại. Khoảng 60% bệnh nhân LMB sẽ có ít nhất một lần viêm phúc mạc trong năm đầu tiên điều trị bằng phương pháp này. Theo Barretti P., tỷ lệ viêm phúc mạc là 0,96 đợt ở mỗi bệnh nhân mỗi năm. Nguy cơ viêm phúc mạc ở bệnh nhân lọc màng bụng bị ảnh hưởng bởi các bệnh đi kèm, giảm albumin máu, tình trạng dinh dưỡng, thu nhập và học vấn của bệnh nhân. Có 21,7% bệnh nhân trong nghiên cứu đã từng viêm phúc mạc. Viêm phúc mạc là một trong những nguyên nhân làm xơ hóa màng bụng, làm giảm khả năng lọc của màng bụng, làm cho nồng độ một số chất trong máu bệnh nhân tăng lên trong đó có β2 microglobulin và kết quả cũng thấy 100% bệnh nhân có tăng β2 microglobulin, điều này sẽ gây nên các triệu chứng thoái hóa dạng bột. Thoái hóa dạng bột do β2 microglobulin có thể biểu hiện ở hệ tim mạch như rối loạn dẫn truyền cơ tim, tổn thương các thành cơ tim; đau cơ xương khớp và các biến chứng khác gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của các bệnh nhân.
Cơ thể sản xuất thiếu erythropoietin là nguyên nhân chính của thiếu máu trong bệnh thận mạn. Khi các cầu thận bị tổn thương (teo nhỏ, xơ hóa) thì lượng erythropoietin sẽ giảm sút gây thiếu máu. Nguyên nhân tiếp theo là tủy xương bị ức chế do nhiễm độc mạn tính và thiếu nguyên liệu tạo hồng cầu (sắt, axít folic, các yếu tố vi lượng…), do tình trạng kém dinh dưỡng, kém hấp thu của đường tiêu hóa do bị tổn thương bởi urê huyết cao thường xuyên gây nên. Ở các bệnh nhân LMB có 73,55 bệnh nhân có thiếu máu ở mức độ vừa và nặng.
BS. Đặng Thị Việt Hà cũng nhận xét mặc dù tỷ lệ đối tượng nghiên cứu được dùng erythropoietin là 93% nhưng tổng liều dùng 2.651 UI/tuần có lẽ là chưa đủ đáp ứng nhu cầu tạo hồng cầu cho cơ thể và cũng cần điều chỉnh dinh dưỡng cũng như bổ sung các chất tạo hồng cầu cho bệnh nhân LMB. Nồng độ sắt thấp ở 10,1% và transferrin thấp tới 45,45% chứng tỏ cần phải bổ sung sắt đầy đủ cho bệnh nhân để cải thiện tình trạng thiếu máu.
Albumin máu một chỉ số đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng ở bệnh nhân. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng ở nhóm bệnh nhân lọc màng bụng có thể lý giải do bệnh nhân thường có cảm giác chán ăn (do tình trạng suy thận, do bệnh nhân thường xuyên có lượng dịch đầy trong ổ bụng) và do thường xuyên bị mất albumin qua dịch lọc. 68,18% bệnh nhân có albumin < 35g/l phản ánh tỷ lệ dinh dưỡng kém ở các bệnh nhân LMB. Tư vấn và điều chỉnh dinh dưỡng tốt cả cải thiện tình trạng chung cho các bệnh nhân LMB.
Mặc dù dinh dưỡng nói chung của các bệnh nhân LMB chưa tốt nhưng vẫn có những bệnh có rối loạn các thành phần mỡ máu theo xu hướng tăng cholesterol, triglycerid và LDL-C. Trong kết quả nghiên cứu, tỷ lệ rối loạn các thành phần mỡ máu gặp từ 8,58-17,67%. Các rối loạn mỡ máu đã được chứng minh gặp tỷ lệ cao ở các bệnh nhân bệnh thận mạn tính, dù đã được LMB thì những rối loạn này vẫn tiếp tục tồn tại, đòi hỏi phải được điều chỉnh tốt để phòng tránh các biến chứng tim mạch cho các bệnh nhân LMB này.
Cuối cùng nhóm tác giả nghiên cứu kết luận còn tồn tại nhiều triệu chứng biến chứng ở các bệnh nhân LMB như tăng huyết áp, thiếu máu, giảm albumin máu, giảm sắt, rối loạn mỡ máu, tăng β2 microglobulin do nhiều nguyên nhân phối hợp gây nên đòi hỏi theo dõi chặt chẽ và điều trị tích cực nhằm nâng cao chất lượng sống cho các bệnh nhân lọc màng bụng.
Thanh Tùng
Chi tiết
Các tin khác
17/10/2016:
Sự khác biệt về giới khi sử dụng dịch vụ y tế
16/10/2016:
Nghiên cứu chỉ số độ cứng động mạch ở bệnh nhân tăng huyết áp
16/10/2016:
Khảo sát nồng độ glucagon huyết tương ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2
13/10/2016:
Điều trị tế bào gốc ở bệnh nhân thoái hoá khớp
12/10/2016:
Phác đồ chẩn đoán DIC ở bệnh nhân Lơ xê mi cấp dòng tủy
12/10/2016:
Nghiên cứu yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp
10/10/2016:
Chất lượng bệnh viện và sự hài lòng của người bệnh
11/09/2016:
Dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch sau mổ chỉnh hình chi dưới
11/09/2016:
Nghiên cứu về tràn dịch màng phổi ác tính
07/09/2016:
Nghiên cứu mô bệnh học ung thư đại trực tràng
Tìm kiếm
Văn bản Sở Y tế
THỜI TIẾT
Nha Trang
Hồ Chí Minh
Hà Nội
Đà Lạt
Đà Nẵng
Thừa Thiên Huế
Độ ẩm:
Gió:
Thống kê online
Đang online:
225
Số lượt truy cập:
9360990
SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa