{1}
##LOC[OK]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
Trang chủ
Văn bản pháp luật
Văn bản Sở Y tế
Thủ tục hành chính
Danh mục TTHC của Sở Y tế
Cơ sở thực hành đào tạo
Văn kiện - Tài liệu
Hỏi/Đáp
Giới thiệu
Giới thiệu chung
Cơ cấu tổ chức
Chức năng, nhiệm vụ
Quy hoạch phát triển Y tế
Thành tựu
Quá trình hình thành và phát triển
Quản lý lĩnh vực Y tế
Lĩnh vực Y
Lĩnh vực Dược
An toàn vệ sinh thực phẩm
Dân số KHHGĐ/SKSS
Bảo hiểm Y tế
Kết quả thủ tục hành chính
Giải quyết khiếu nại, tố cáo
Thống kê Y tế
Xã hội hóa Y, Dược tư nhân
Phòng chống dịch
Bảo trợ - Xã hội
Thông tin hành nghề
Hành nghề Y tư nhân
Hành nghề Dược tư nhân
An toàn vệ sinh thực phẩm
Tin tức - sự kiện
Y tế cơ sở
Chương trình mục tiêu
Đào tạo
Nghiên cứu khoa học
Giáo dục sức khỏe
Mô hình, sáng kiến, kinh nghiệm
Cải cách hành chính
Danh mục TTHC SYT
Quy định, Chỉ đạo, Đề án
Chương trình, Kế hoạch
Tin bài, hoạt động
Báo cáo, thống kê, xếp hạng
Chuyển đổi số ngành Y tế
Nâng lực cạnh tranh (PCI)
Gương điển hình tiên tiến
Chỉ số phục vụ của SYT
Dự án đầu tư, mua sắm
Dự án
Thông tin đấu thầu
Mua sắm
Tuyên truyền VBQL-PL
Văn bản QPPL Nhà nước
Văn bản QPPL Y tế
Văn bản Sở Y tế
Công tác khác
Văn thư lưu trữ
Công khai ngân sách
Hệ thống QLCL TCVN 9001:2008
Lịch công tác tuần
Dân hỏi
Điều động, bổ nhiệm
Liên kết website
Chọn website
Thu thập số liệu mắt hột
Chỉnh phủ
Tỉnh Khánh Hoà
Sở Giáo Dục
Cục Y tế dự phòng
Cục Quản lý Khám chữa bệnh
Cục xúc tiến thương mại
Thị trường nước ngoài
Thương mại điện tử
Báo Người lao động
Báo Thanh niên
Sử dụng năng lượng tiết kiệm
Sở Kế Hoạch Đầu Tư
BQL Khu Kinh Tế Vân Phong
Đề tài khoa học
Chụp mạch cộng hưởng từ chẩn đoán dị dạng động tĩnh mạch não
[Đăng ngày: 24/10/2016]
Dị dạng động tĩnh mạch não là bệnh lý có bất thường bẩm sinh ở mạch não, trong đó có sự nối thông bất thường giữa động mạch và tĩnh mạch. Bệnh thường phát hiện được ở nhóm người trẻ tuổi, trung niên (20-40 tuổi). Tuỳ thuộc vào vị trí, kích thước ổ dị dạng mà có thể gây ra các triệu chứng như đau đầu, động kinh, lồi mắt và các triệu chứng của xuất huyết não nếu ổ dị dạng bị vỡ.
Dị dạng động tĩnh mạch não của não chiếm khoảng 0,1% trong cộng đồng. Các tổn thương trên lều tiểu não chiếm đến 90% số dị dạng động tĩnh mạch não của não; phần còn lại nằm ở hố sau. Dị dạng động tĩnh mạch não gặp ở khoảng 1-2% tổng số đột quỵ.
Việc chẩn đoán dị dạng động tĩnh mạch não dựa vào các triệu chứng lâm sàng và các thăm khám hình ảnh như siêu âm Doppler mạch máu, chụp cắt lớp vi tính mạch máu (CTA), chụp cộng hưởng từ mạch máu (MRA) và chụp mạch não chọn lọc qua ống thông (conventional catheter angiography-CCA) trong đó chụp mạch não chọn lọc qua ống thông là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán.
Điều trị dị dạng động tĩnh mạch não hiện nay có các phương pháp phẫu thuật, can thiệp nội mạch, xạ phẫu trong đó xạ phẫu ngày càng được nhiều tác giả lựa chọn do ít biến chứng và tác dụng phụ sau điều trị.
Từ tháng 1/2014 đến tháng 3/2015, tác giả nghiên cứu Đỗ Đức Cường- Bệnh viện Trung Ương Quân Đội 108- tiến hành đề tài nghiên cứu “Vai trò của chụp mạch cộng hưởng từ 3 Tesla trong chẩn đoán dị dạng động- tĩnh mạch não.
Có 14 bệnh nhân được chọn đối tượng nghiên cứu, tiêu chuẩn lựa chọn là được chụp trên máy cộng hưởng từ 3T tại Khoa Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 trong thời gian nghiên cứu; được chụp mạch qua ống thông trong vòng 30 ngày sau khi chụp MRA và được xác nhận là dị dạng động tĩnh mạch não; có hồ sơ bệnh án lưu trữ tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Tiêu chuẩn loại trừ là những bệnh nhân trước đó đã điều trị dị dạng động – tĩnh mạch não bằng phẫu thuật, xạ trị hay can thiệp nội mạch; bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.
Theo tác giả nghiên cứu, phương tiện nghiên cứu là máy cộng hưởng từ 3 Tesla của hãng Philip (Hà Lan) đặt tại Khoa Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Sử dụng kỹ thuật 3D TOF (the 3D time-of-flight) là kỹ thuật chụp mạch không can thiệp trên cộng hưởng từ (MRI) đánh giá mạch máu não.
Kết quả phân tích hình ảnh: mô tả hình ảnh dị dạng động tĩnh mạch não trên MRA: động mạch nuôi, ổ dị dạng, tĩnh mạch dẫn lưu, phồng động mạch kèm theo, phân độ theo Spetzler-Martin; Tín hiệu mạch sau khi tiêm thuốc có các mức độ: tín hiệu trung bình khi độ sáng của lòng mạch sau tiêm thuốc ở mức độ cao hơn và rõ; Tĩnh mạch dẫn lưu chia 3 nhóm: tĩnh mạch dẫn lưu nông, sâu và bao gồm cả nông và sâu. Tĩnh mạch dẫn lưu nông là các tĩnh mạch đổ về các tĩnh mạch vùng vỏ não, tĩnh mạch dẫn lưu sâu đổ về hộ lưu Herophile hoặc xoang thẳng. Đo kích thước lớn nhất sau khi xác định dị dạng động tĩnh mạch não trên cả 03 mặt phẳng không gian và phân vào 1 trong 3 nhóm theo phân loại Spetzel- martin.
Kết quả nghiên cứu, trong 14 bệnh nhân có 09 nam, 5 nữ. Tuổi từ 18-59. Có 11 bệnh nhân dị dạng động tĩnh mạch não trên lều, 03 trường hợp còn lại là dị dạng động tĩnh mạch não dưới lều. Theo phân tích của tác giả Đỗ Đức Cường, chụp mạch cộng hưởng từ MRA chụp động mạch có độ nhạy cao để phát hiện ổ dị dạng để xác định các phép đo kích thước ổ dị dạng theo phân loại Spetzler-Martin. Trong số 14 bệnh nhân có 1 ổ dị dạng đã được chứng minh trên chụp mạch bằng 2 phương pháp đã cho thấy kết quả tương tự trong tất cả các trường hợp. Có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các AVM có kích thước nhỏ (<3cm) có biểu hiện lâm sàng xuất huyết nhiều hơn các bệnh nhân có dị dạng động tĩnh mạch não kích thước lớn (> 6cm).
Chụp mạch bằng ống thông phát hiện 09 trường hợp có tĩnh mạch dẫn lưu sâu và 05 trường hợp chỉ có tĩnh mạch dẫn lưu nông đơn thuần. Chụp mạch cộng hưởng từ phù hợp 12/14 trường hợp (k=0,85); 01 tường hợp xác định nhầm 01 tĩnh mạch dẫn lưu nông thành sâu, 01 trường hợp xác định là tĩnh mạch dẫn lưu nông nhưng trên chụp mạch bằng ống thông cho thấy là tĩnh mạch dẫn lưu sâu. Tĩnh mạch dẫn lưu không thấy do dị dạng tĩnh mạch máu não đó có dòng chảy chậm, tĩnh mạch dẫn lưu có vai trò rất quan trọng trong đánh giá nguy cơ chảy máu.
Chụp MRA xác định được 86,9% động mạch nuôi, phương pháp MRA có độ nhạy kém với các nhánh động mạch nuôi có kích thước nhỏ.
Tất cả các dữ liệu phân độ Spetzler- Martin được hoàn thành với các dữ liệu thu được từ chụp mạch qua ống thông. Hệ thống điểm Spetzlet-Martin được sử dụng trong suốt thời gian qua nhằm dự đoán rủi ro trong phẫu thuật can thiệp dị dạng động tĩnh mạch máu và liên quan với tiên lượng hiệu quả của phẫu thuật với bệnh nhân.
Tuy có một vài giới hạn của kỹ thuật, so với chụp mạch qua ống thông, MRA là biện pháp thăm khám không can thiệp, chẩn đoán được đưa ra với thời gian nhanh, bệnh nhân không bị nhiễm tia xạ và giá thành thấp hơn nhiều. Kỹ thuật này cũng giúp cho người bệnh không phải chịu căng thẳng về thần kinh cũng như các biến chứng trong quá trình chụp mạch. MRA cung cấp thông tin về giải phẫu và thầy thuốc dễ dàng xác định tổn thương trên 03 mặt phẳng không gian.
Ngô Thanh
Chi tiết
Các tin khác
24/10/2016:
Tình hình nhiễm giun truyền qua đất tại tỉnh Khánh Hòa
24/10/2016:
Đánh giá độ nặng của cơn hen cấp
24/10/2016:
Kết quả xét nghiệm trong điều trị vàng da tăng Bilirubin ở trẻ sơ sinh
20/10/2016:
Nhận xét đặc điểm lâm sàng bệnh nhân lọc màng bụng
17/10/2016:
Sự khác biệt về giới khi sử dụng dịch vụ y tế
16/10/2016:
Nghiên cứu chỉ số độ cứng động mạch ở bệnh nhân tăng huyết áp
16/10/2016:
Khảo sát nồng độ glucagon huyết tương ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2
13/10/2016:
Điều trị tế bào gốc ở bệnh nhân thoái hoá khớp
12/10/2016:
Phác đồ chẩn đoán DIC ở bệnh nhân Lơ xê mi cấp dòng tủy
12/10/2016:
Nghiên cứu yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp
Tìm kiếm
Văn bản Sở Y tế
THỜI TIẾT
Nha Trang
Hồ Chí Minh
Hà Nội
Đà Lạt
Đà Nẵng
Thừa Thiên Huế
Độ ẩm:
Gió:
Thống kê online
Đang online:
225
Số lượt truy cập:
9360990
SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa