{1}
##LOC[OK]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
Trang chủ
Văn bản pháp luật
Văn bản Sở Y tế
Thủ tục hành chính
Danh mục TTHC của Sở Y tế
Cơ sở thực hành đào tạo
Văn kiện - Tài liệu
Hỏi/Đáp
Giới thiệu
Giới thiệu chung
Cơ cấu tổ chức
Chức năng, nhiệm vụ
Quy hoạch phát triển Y tế
Thành tựu
Quá trình hình thành và phát triển
Quản lý lĩnh vực Y tế
Lĩnh vực Y
Lĩnh vực Dược
An toàn vệ sinh thực phẩm
Dân số KHHGĐ/SKSS
Bảo hiểm Y tế
Kết quả thủ tục hành chính
Giải quyết khiếu nại, tố cáo
Thống kê Y tế
Xã hội hóa Y, Dược tư nhân
Phòng chống dịch
Bảo trợ - Xã hội
Thông tin hành nghề
Hành nghề Y tư nhân
Hành nghề Dược tư nhân
An toàn vệ sinh thực phẩm
Tin tức - sự kiện
Y tế cơ sở
Chương trình mục tiêu
Đào tạo
Nghiên cứu khoa học
Giáo dục sức khỏe
Mô hình, sáng kiến, kinh nghiệm
Cải cách hành chính
Danh mục TTHC SYT
Quy định, Chỉ đạo, Đề án
Chương trình, Kế hoạch
Tin bài, hoạt động
Báo cáo, thống kê, xếp hạng
Chuyển đổi số ngành Y tế
Nâng lực cạnh tranh (PCI)
Gương điển hình tiên tiến
Chỉ số phục vụ của SYT
Dự án đầu tư, mua sắm
Dự án
Thông tin đấu thầu
Mua sắm
Tuyên truyền VBQL-PL
Văn bản QPPL Nhà nước
Văn bản QPPL Y tế
Văn bản Sở Y tế
Công tác khác
Văn thư lưu trữ
Công khai ngân sách
Hệ thống QLCL TCVN 9001:2008
Lịch công tác tuần
Dân hỏi
Điều động, bổ nhiệm
Liên kết website
Chọn website
Thu thập số liệu mắt hột
Chỉnh phủ
Tỉnh Khánh Hoà
Sở Giáo Dục
Cục Y tế dự phòng
Cục Quản lý Khám chữa bệnh
Cục xúc tiến thương mại
Thị trường nước ngoài
Thương mại điện tử
Báo Người lao động
Báo Thanh niên
Sử dụng năng lượng tiết kiệm
Sở Kế Hoạch Đầu Tư
BQL Khu Kinh Tế Vân Phong
Đề tài khoa học
Kết quả xét nghiệm trong điều trị vàng da tăng Bilirubin ở trẻ sơ sinh
[Đăng ngày: 24/10/2016]
ng do ở trẻ sơ sinh là hiện tượng sinh lý do tăng phá hủy hồng cầu phôi thai, giảm chức năng của các men chuyển hóa do gan sản xuất và tăng chu trình ruột gan. Trong một số trường hợp, khi bilirubin gián tiếp trong máu tăng quá cao có thể diễn tiến nặng đến vàng da nhân. Biến chứng này tùy thuộc nhiều yếu tố như trẻ non tháng hay đủ tháng, trẻ khỏe hay bệnh lý, bất đồng nhóm máu.
Trong chẩn đoán, bác sĩ sẽ chú ý thời gian xuất hiện vàng da, sớm 1-2 ngày do huyết tán, bất đồng nhóm máu ABO hoặc nhóm máu khác; Từ 3-10 ngày thường gặp; trường hợp này có thể có biến chứng hoặc không biến chứng; thời gian xuất hiện vàng da muộn là từ ngày 14 trở đi do vàng da sữa mẹ, vàng da tăng bilirubin trực tiếp. Trẻ có triệu chứng đi kèm như bỏ bú, co giật. Trẻ bị vàng da nhân gây ra những biến chứng làm trẻ li bì, mất phản xạ bú, gồng ưỡn người.
Những yếu tố góp phần làm vàng da nặng hơn là trẻ đẻ non tháng; máu tụ, bướu thuyết thanh; da ửng đỏ do đa hồng cầu; nhiễm trùng; chướng bụng do chậm tiêu phân su, tắc ruột.
Nguyên tắc điều trị bệnh là chiếu đèn, thay máu và điều trị hổ trợ. Chỉ định chiếu đèn khi lâm sàng có vàng da sớm, vàng da lan rộng đến tay, chân hoặc căn cứ ở mức bilirubin máu. Về nguyên tắc chiếu đèn liên tục, chỉ ngừng khi cho bú. Trường hợp vàng da nặng nên chọn ánh sáng xanh hoặc ánh sáng trắng với hệ thống đèn hai mặt. Tăng lượng dịch nhập 10-20% nhu cầu. Chỉ định thay máu khi lâm sàng vàng da sậm đến lòng bàn tay, bàn chân (dưới 1 tuần) cộng với bắt đầu có biểu hiện thần kinh hoặc mức bilirubin gián tiếp máu cao hơn 20mg% cộng với trẻ li bì, bú kém.
Trong thời gian nằm viện, trẻ cần được theo dõi mức độ vàng da, biểu hiện thần kinh mỗi 4-6 giờ nếu vàng da nặng, mỗi 24 giờ trong trường hợp vàng da nhẹ. Theo dõi lượng xuất, nhập, cân nặng mỗi ngày. Bệnh nhân cần tái khám sau ra viện mỗi tháng để đánh giá phát triển tâm thần vận động và có kế hoạch phục hồi chức năng kịp thời.
Từ tháng 1/2011 đến tháng 2/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thanh Thúy cùng cộng sự Trường Đại học Y Hà Nội tiến hành đề tài nghiên cứu “Nhận xét sự thay đổi một số kết quả xét nghiệm ở trẻ sơ sinh sau thay máu trong điều trị vàng da tăng Bulirubin tại Bệnh viện Xanh Pôn năm 2011-2015”.
Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu là những trẻ sơ sinh bị vàng da do tăng bilirubin gián tiếp (dựa vào lâm sàng, định lượng bilirubin máu); trẻ có chỉ định điều trị bằng thay máu.
Theo nhóm tác giả nghiên cứu, đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang, thu thập số liệu qua hồi cứu; cỡ mẫu có 63 bệnh án trẻ đẻ non phù hợp tiêu chuẩn lựa chọn của nghiên cứu. Theo phân tích của BS. Nguyễn Thanh Thúy, đặc điểm đối tượng nghiên cứu, tỷ lệ trẻ nam, đủ tháng cao hơn trẻ nữ.
Theo phân tích của tác giả Nguyển Thanh Thúy, về đặc điểm hồng cầu, sau thay máu MCV, MCH giảm có ý nghĩa thống kê. Nguyên nhân là do hầu hết hồng cầu sơ sinh là hồng cầu to, có nhân và ưu sắc (mang HbF) nay được thay thế bằng hồng cầu rửa của người trưởng thành khi thay máu nên đã đưa ra các chỉ số MCV và MCH trở về bình thường. Như vậy, thay máu không những làm giảm lượng bilirubin trong máu nhanh chóng mà còn góp phần giúp cải thiện hiện tượng thiếu máu của trẻ. Về đặc điểm đông máu, số lượng tiểu cầu giảm còn 158,1 + 81,1 G/l và có 22,6% trẻ giảm tiểu cầu sau thay máu, sự thay đổi này có ý nghĩa thống kê. Đây là biến chứng thường gặp, đã được quan sát thấy ở nghiên cứu trong và ngoài nước.
BS.Nguyễn Thanh Thúy phân tích kết quả nghiên cứu có một trẻ giảm tiểu cầu nặng (34,3 G/l) và 01 trẻ giảm tiểu cầu rất nặng sau thay máu (18 G/l). Các trẻ này đều có tình trạng giảm tiểu cầu trước đó, không có biểu hiện lâm sàng, được phát hiện và điều trị kịp thời. Nguyên nhân dẫn đến giảm tiểu cầu sau thay máu có lẽ là do các chế phẩm máu thay không còn chứa nhiều tiểu cầu, liên quan đến kỹ thuật tách lọc các tế bào máu.
Về đặc điểm sinh hóa sau thay máu: điện giải là các yếu tố quan trọng giúp duy trì hoạt động của tế bào và cơ thể như giúp duy trì áp lực thẩm thấu, cân bằng nội môi, tạo điện thế hoạt động…Sau thay máu, nổi bật lên là tình trạng giảm kali, nồng độ kali trung bình là 2,7 + 0,14 mmol/l, giá trị này giảm có ý nghĩa thống kê.
Tác giả nghiên cứu cũng lưu ý chế phẩm máu sử dụng tại Bệnh viện là chế phẩm máu tươi, sử dụng hồng cầu rửa nên loại bỏ tế bào vỡ không gây tăng kali máu như chế phẩm máu được lưu trữ. Giảm kali máu thường biểu hiện kín đáo, khi mức độ đã nặng, sẽ gây yếu, liệt, rối loạn nhịp tim, có thể tử vong. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này những trẻ có rối loạn kali máu chỉ được phát hiện trên xét nghiệm cận lâm sàng và ở mức độ nhẹ. Nồng độ natri, clo, glucose không có thay đổi đáng kể.
Minh Tâm
Chi tiết
Các tin khác
20/10/2016:
Nhận xét đặc điểm lâm sàng bệnh nhân lọc màng bụng
17/10/2016:
Sự khác biệt về giới khi sử dụng dịch vụ y tế
16/10/2016:
Nghiên cứu chỉ số độ cứng động mạch ở bệnh nhân tăng huyết áp
16/10/2016:
Khảo sát nồng độ glucagon huyết tương ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2
13/10/2016:
Điều trị tế bào gốc ở bệnh nhân thoái hoá khớp
12/10/2016:
Phác đồ chẩn đoán DIC ở bệnh nhân Lơ xê mi cấp dòng tủy
12/10/2016:
Nghiên cứu yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp
10/10/2016:
Chất lượng bệnh viện và sự hài lòng của người bệnh
11/09/2016:
Dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch sau mổ chỉnh hình chi dưới
11/09/2016:
Nghiên cứu về tràn dịch màng phổi ác tính
Tìm kiếm
Văn bản Sở Y tế
THỜI TIẾT
Nha Trang
Hồ Chí Minh
Hà Nội
Đà Lạt
Đà Nẵng
Thừa Thiên Huế
Độ ẩm:
Gió:
Thống kê online
Đang online:
224
Số lượt truy cập:
9360991
SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa