{1}
##LOC[OK]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
Trang chủ
Văn bản pháp luật
Văn bản Sở Y tế
Thủ tục hành chính
Danh mục TTHC của Sở Y tế
Cơ sở thực hành đào tạo
Văn kiện - Tài liệu
Hỏi/Đáp
Giới thiệu
Giới thiệu chung
Cơ cấu tổ chức
Chức năng, nhiệm vụ
Quy hoạch phát triển Y tế
Thành tựu
Quá trình hình thành và phát triển
Quản lý lĩnh vực Y tế
Lĩnh vực Y
Lĩnh vực Dược
An toàn vệ sinh thực phẩm
Dân số KHHGĐ/SKSS
Bảo hiểm Y tế
Kết quả thủ tục hành chính
Giải quyết khiếu nại, tố cáo
Thống kê Y tế
Xã hội hóa Y, Dược tư nhân
Phòng chống dịch
Bảo trợ - Xã hội
Thông tin hành nghề
Hành nghề Y tư nhân
Hành nghề Dược tư nhân
An toàn vệ sinh thực phẩm
Tin tức - sự kiện
Y tế cơ sở
Chương trình mục tiêu
Đào tạo
Nghiên cứu khoa học
Giáo dục sức khỏe
Mô hình, sáng kiến, kinh nghiệm
Cải cách hành chính
Danh mục TTHC SYT
Quy định, Chỉ đạo, Đề án
Chương trình, Kế hoạch
Tin bài, hoạt động
Báo cáo, thống kê, xếp hạng
Chuyển đổi số ngành Y tế
Nâng lực cạnh tranh (PCI)
Gương điển hình tiên tiến
Chỉ số phục vụ của SYT
Dự án đầu tư, mua sắm
Dự án
Thông tin đấu thầu
Mua sắm
Tuyên truyền VBQL-PL
Văn bản QPPL Nhà nước
Văn bản QPPL Y tế
Văn bản Sở Y tế
Công tác khác
Văn thư lưu trữ
Công khai ngân sách
Hệ thống QLCL TCVN 9001:2008
Lịch công tác tuần
Dân hỏi
Điều động, bổ nhiệm
Liên kết website
Chọn website
Thu thập số liệu mắt hột
Chỉnh phủ
Tỉnh Khánh Hoà
Sở Giáo Dục
Cục Y tế dự phòng
Cục Quản lý Khám chữa bệnh
Cục xúc tiến thương mại
Thị trường nước ngoài
Thương mại điện tử
Báo Người lao động
Báo Thanh niên
Sử dụng năng lượng tiết kiệm
Sở Kế Hoạch Đầu Tư
BQL Khu Kinh Tế Vân Phong
Đề tài khoa học
Tình hình nhiễm giun truyền qua đất tại tỉnh Khánh Hòa
[Đăng ngày: 24/10/2016]
Năm 2015, tác giả nghiên cứu Nguyễn Thế Dũng – Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa tiến hành đề tài “Nghiên cứu tình hình nhiễm giun truyền qua đất (giun đũa, giun tóc, giun móc/mỏ) ở cộng đồng dân cư tỉnh Khánh Hòa”.
Cỡ mẫu nghiên cứu là 384 người tại 4 điểm, tổng cộng có 1536 người tham gia nghiên cứu. Dựa vào danh sách số hộ gia đình được UBND thành phố, thị xã, huyện, xã, phường ở 4 điểm nghiên cứu (Điểm thứ nhất thành phố: Nha Trang, Cam Ranh; Điểm thứ hai Đồng bằng ven biển: Diên Khánh, Cam Lâm; Điểm thứ ba Đồng bằng ven biển: Ninh Hòa, Vạn Ninh; Điểm thứ tư Miền núi: Khánh Sơn, Khánh Vĩnh). Đối tượng nghiên cứu là người dân sống tại tỉnh Khánh Hòa trên 3 năm, tự nguyện tham gia nghiên cứu.
Theo phân tích của tác giả Nguyễn Thế Dũng, trong 1.536 đối tượng nghiên cứu, tỷ lệ nhóm trên 18 tuổi chiếm 70,9%, nhóm 3-5 tuổi chiếm 8,2%, nhóm 6-11 tuổi chiếm 7,6%, thấp nhất là nhóm 12-15 tuổi chiếm 6,1%. Về giới tính: Nam chiếm 46,5%; Nữ cao hơn Nam chiếm 53,3%. Về trình độ học vấn của các chủ hộ gia đình tại 4 điểm nghiên cứu cho thấy: Đại học chiếm 7,5%, Trung cấp – Cao đẳng chiếm 17,8%, Trung học phổ thông chiếm 22,5%, Trung học cơ sở chiếm 25,8%, tiểu học chiếm 16,8% và không biết chữ chiếm 9,75%.
Tỷ lệ nhiễm giun chung, giun đũa, giun tóc, giun móc/mỏ ở 4 điểm nghiên cứu: Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm giun chung ở 4 điểm nghiên cứu 16,7%. Trong đó Nha Trang – Cam Ranh 15,4%, Diên Khánh – Cam Lâm 14,8%, Ninh Hòa – Vạn Ninh 17,7%, Khánh Sơn – Khánh Vĩnh 18,8%. Sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm giun chung ở 4 điểm nghiên cứu không có ý nghĩa thống kê với p = 0,409. Tỷ lệ nhiễm giun đũa chiếm 8,3%, sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm giun đũa ở 4 điểm nghiên cứu không có ý nghĩa thống kê với p = 0,73. Tỷ lệ nhiễm giun tóc chiếm 2,2%, sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm giun tóc ở 4 điểm nghiên cứu không có ý nghĩa thống kê với p = 0,39. Tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ chiếm 9,1%, sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ ở 4 điểm nghiên cứu có ý nghĩa thống kê với p = 0,01.
Về hiểu biết đường lây truyền kết quả nghiên cứu cho thấy các chủ hộ biết được đường lây truyền của giun qua thức ăn chiếm 65,5%, qua tay bẩn 63,2%, qua uống nước lã 51,5%, qua da 32,5% và không biết các đường lây truyền của giun chiếm 9%. Như vậy có 67,5% các chủ hộ không biết đường lây truyền của giun qua da và có 9% chủ hộ không biết bất cứ một đường lây truyền nào của giun.
Hiểu biết về tác hại của giun, qua khảo sát có 68% chủ hộ hiểu biết tác hại của giun gây đau bụng, có 60,5% hiểu biết tác hại của giun gây gầy yếu, có 44% hiểu biết tác hại của giun gây tắt ruột và có 40,5% hiểu biết tác hại của giun gây thiếu máu, đặc biệt có 10% không biết tác hại nào của giun.
Thái độ và thực hành về phòng chống nhiễm giun truyền qua đất tại Khánh Hòa. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người dân uống nước lã thường xuyên chiếm 43,8%, không uống thuốc tẩy giun định kỳ chiếm 41%, không dùng bảo hộ lao động chiếm 35%, không sử dụng hố xí hợp vệ sinh chiếm 19%, không rửa tay trước khi ăn và sau khi đại tiện chiếm 14,5%, không đi giày dép trong sinh hoạt và lao động chiếm 10,8%.
Kết quả phân tích đa biến mối liên quan giữa nhiễm giun và một số yếu tố nguy cơ đã chỉ ra có 4 trong 6 yếu tố liên quan với tỷ lệ nhiễm giun có ý nghĩa thống kê với (p<0,05): Không sử dụng hố xí hợp vệ sinh có nguy cơ nhiễm giun móc/mỏ cao (p<0,001), không đi giày dép trong lao động có nguy cơ nhiễm giun móc/mỏ cao (p=0,006), không dùng bảo hộ lao động tiếp xúc phân, rác có nguy cơ nhiễm giun móc/mỏ cao (p<0,001), thường xuyên uống nước lã có nguy cơ nhiễm giun đũa, giun tóc cao (p<0,001).
Chúng ta biết rằng, các bệnh giun truyền qua đất phổ biến nhất là giun đũa, giun tóc và giun móc/mỏ lưu hành ở khắp nơi trên thế giới; đặc biệt các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, trong đó có Việt Nam.
Các định lượng chi phí để điều trị bệnh nhiễm giun truyền qua đất nhằm giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng là rất lớn. Tổng số năm học bị mất do bệnh nhiễm giun truyền qua đất liên quan đến số tiền hơn 200 triệu USD/năm, và thu nhập bình quân đầu người thấp. Chỉ số thông minh (IQ) bị mất ở một trường hợp bị giun truyền qua đất là 3,75 điểm và tổng số điểm (IQ) bị mất là 633 triệu điểm cho các nước có thu nhập thấp. Tuy nhiên, tác động lớn nhất của nhiễm giun truyền qua đất là sự suy yếu về thể chất và phát triển tinh thần ở trẻ em, mà hậu quả cuối cùng làm chậm sự tiến bộ của nền giáo dục và kinh tế kém phát triển.
Chúng ta biết rằng, các loài giun truyền qua đất lây truyền bệnh qua trứng có trong phân người mắc giun. Giun trưởng thành sống trong ruột và đẻ hàng ngàn trứng mỗi ngày. Trứng giun gắn trên rau, khi rau không được nấu chín kỹ, rửa sạch. Trứng giun móc có thể nở trong đất, giải phóng ấu trùng; ấu trùng có thể xâm nhập qua da. Người bị nhiễm giun móc chủ yếu bởi đi bộ chân trần trên đất bị nhiễm giun. Không có lây truyền trực tiếp người – người và không có nhiễm qua phân tươi vì trứng giun được thải ra trong phân cần khoảng 3 tuần để trưởng thành trong đất trước khi trở thành có thể gây bệnh. Giun không nhân lên trong cơ thể vật chủ nên việc tái nhiễm chỉ xảy ra nếu có tiếp xúc với các giai đoạn có thể lây nhiễm (của giun) trong môi trường.
Tỷ lệ mắc bệnh có liên quan trực tiếp đến lượng giun: số lượng giun trong người bị nhiễm càng lớn thì mức độ nghiêm trọng của bệnh càng cao. Người nhiễm giun mức độ nhẹ thường không có triệu chứng. Nhiễm trùng nặng có thể gây ra một loạt các triệu chứng bao gồm những biểu hiện tiêu hóa (tiêu chảy, đau bụng), khó chịu nói chung và yếu mệt, chậm phát triển trí tuệ và thể chất. Giun móc gây mất máu đường ruột mãn tính có thể dẫn đến thiếu máu.
Các biện pháp can thiệp của WHO được dựa trên chỉ định uống thuốc giun định kỳ đối với các nhóm có nguy cơ, được hỗ trợ các biện pháp cải thiện vệ sinh môi trường và giáo dục sức khỏe. WHO khuyến cáo việc uống thuốc giun mỗi năm một lần tại các khu vực có tỷ lệ nhiễm bệnh từ 20% và 50%, và mỗi năm hai lần ở những khu vực có tỷ lệ trên 50%. Các biện pháp vệ sinh môi trường giúp giảm nguy cơ lây truyền.
Anh Huy
Chi tiết
Các tin khác
24/10/2016:
Đánh giá độ nặng của cơn hen cấp
24/10/2016:
Kết quả xét nghiệm trong điều trị vàng da tăng Bilirubin ở trẻ sơ sinh
20/10/2016:
Nhận xét đặc điểm lâm sàng bệnh nhân lọc màng bụng
17/10/2016:
Sự khác biệt về giới khi sử dụng dịch vụ y tế
16/10/2016:
Nghiên cứu chỉ số độ cứng động mạch ở bệnh nhân tăng huyết áp
16/10/2016:
Khảo sát nồng độ glucagon huyết tương ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2
13/10/2016:
Điều trị tế bào gốc ở bệnh nhân thoái hoá khớp
12/10/2016:
Phác đồ chẩn đoán DIC ở bệnh nhân Lơ xê mi cấp dòng tủy
12/10/2016:
Nghiên cứu yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp
10/10/2016:
Chất lượng bệnh viện và sự hài lòng của người bệnh
Tìm kiếm
Văn bản Sở Y tế
THỜI TIẾT
Nha Trang
Hồ Chí Minh
Hà Nội
Đà Lạt
Đà Nẵng
Thừa Thiên Huế
Độ ẩm:
Gió:
Thống kê online
Đang online:
224
Số lượt truy cập:
9360991
SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa