Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện BS Tiêu Thị Thu Vân cùng cộng sự tiến hành giai đoạn 2013 – 2015. Thiết kế nghiên cứu chia 2 giai đoạn đánh giá, trước khi lồng ghép điều trị ARV và Methadone (trước tháng 10/2013) và sau lồng ghép (sau tháng 6/2014). Nghiên cứu được tiến hành tại phòng khám ngoại trú quận 6 và quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh.
Theo BS Vân, kết quả nghiên cứu cho thấy sau khi lồng ghép điều trị ARV và Methadone số lượng nhân viên giảm nhưng việc phục vụ bệnh nhân tốt hơn, chi phí đầu tư giảm trong khi số bệnh nhân đến tham gia điều trị vẫn tăng lên. Chất lượng chương trình điều trị ARV và Methadone được giữ vững ngang bằng qua các chỉ số báo cáo tháng đối với thông tin bệnh nhân trước điều trị, bệnh nhân mất dấu, bệnh nhân tử vong; bệnh nhân bỏ trị. Tỷ lệ bệnh nhân điều trị thời gian từ 6 tháng trở lên có kết quả xét nghiệm nước tiểu dương tính với HIV giảm (từ 8,3% xuống còn 3,5%); Tỷ lệ bệnh nhân ngừng điều trị giảm từ 8,9% xuống còn 3,4%. Tác giả nghiên cứu khuyến nghị mô hình lồng ghép hoạt động chăm sóc điều trị ARV và Methadone là giải pháp tốt giúp đảm bảo sự bền vững chương trình.

Theo tác giả Lê Trường Sơn cùng cộng sự Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Thanh Hóa, tiến hành nghiên cứu trên 72 bệnh nhân AIDS bỏ trị ARV tại 8 phòng khám ngoại trú (OPC) tại tỉnh Thanh Hóa năm 2012 – 2013, cho thấy nguyên nhân do khó khăn tài chính là 91,6%; không có việc làm ổn định là 88,9%; vẫn đang sử dụng ma túy trong điều trị 63,9% có 63,7% bệnh nhân bỏ trị ARV hay quên uống thuốc; trên 50% gặp tác dụng phụ khi uống thuốc ARV; 50% bệnh nhân chưa hiểu đầy đủ việc cần phải tuân thủ điều trị ARV. Tác giả cũng báo cáo nguyên nhân chính khiến bệnh nhân bỏ trị ARV là do đi làm ăn xa 38,9%; sợ bị kỳ thị 25% và 18% do điều trị không hiệu quả (dừng uống thuốc ARV để điều trị bệnh khác).
Tác giả Khưu Văn Nghĩa cùng cộng sự Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh tiến hành nghiên cứu tại 30 cơ sở điều trị bệnh nhân AIDS tại các tỉnh miền Nam nhằm xác định tỷ lệ tử vong, bỏ trị và duy trì điều trị ở bệnh nhân trong giai đoạn 2010 – 2013. Tác giả nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thu thập các chỉ số cảnh báo sớm HIV kháng thuốc (EWI) do Tổ chức Y tế thế giới đưa ra.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tử vong sau 12 tháng điều trị ARV có xu hướng giảm dưới 10%; tác giả nghiên cứu đề xuất người nhiễm HIV nên được bắt đầu điều trị ARV sớm để hạn chế tử vong; các cơ sở điều trị bệnh nhân AIDS nên duy trì và mở rộng đánh giá các chỉ số cảnh báo sớm HIV kháng thuốc (EWI).
Một nghiên cứu được thực hiện bởi tác giả Lê Văn Học cùng cộng sự Bệnh viện Nhân Ái TP Hồ Chí Minh đánh giá chất lượng sống của bệnh nhân HIV/AIDS điều trị ARV. Nghiên cứu theo dõi các bệnh nhân được điều trị ARV tại Bệnh viện Nhân Ái từ tháng 5 – 10/2014. Các thông tin đối tượng nghiên cứu được thu thập 2 lần, mỗi lần cách nhau 1 tháng. Chất lượng cuộc sống được thu thập thông tin bằng bộ câu hỏi WHOQOL-BREF. Báo cáo kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 33,6; số tế bào CD4 trung bình là 231/mm3.
Bệnh nhân ở giai đoạn lâm sàng 3 và 4 chiếm gần 84%; nam giới chiếm 72%. Điểm chất lượng cuộc sống lần kiểm soát thứ 2 cao hơn lần 1, có ý nghĩa thống kê. Điểm chất lượng cuộc sống có liên quan với các yếu tố như độ tuổi, giới tính, giai đoạn lâm sàng giữa 2 lần điều tra.
Theo tác giả nghiên cứu, cần có sự đánh giá thường xuyên chất lượng cuộc sống bệnh nhân HIV/AIDS, xem đây là những kiểm nghiệm giúp cho việc nâng cao chất lượng chăm sóc, điều trị đối với bệnh nhân HIV/AIDS.
Một nghiên cứu khác của tác giả Lã Thị Lan, Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Hà Nội, tiến hành phân tích 400 hồ sơ bệnh án của các bệnh nhân đang được điều trị bằng ARV tại 07 phòng khám ngoại trú khu vực nội thành Hà Nội. Theo tác giả nghiên cứu, kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng tế bào CD4 thay đổi theo từng giai đoạn qua theo dõi 6 tháng dao động xung quanh khoảng từ 37-49 tế bào/mm3. Tác giả nghiên cứu cho rằng việc điều trị ARV sớm sẽ đem lại kết quả tốt hơn so với điều trị muộn, giúp cho bệnh nhân AIDS tăng cường sự chăm sóc sức khỏe, kiểm soát các nhiễm trùng cơ hội; loại bỏ hành vi tiêm chích sử dụng ma túy và tình dục không an toàn.

Còn đối với tác giả Nguyễn Thị Thủy – Khoa phòng chống HIV/AIDS Viện Vệ sinh Dịch tễ Tây Nguyên báo cáo kết quả nghiên cứu 226 bệnh nhân HIV/AIDS đang điều trị ARV tại 3 phòng khám điều trị ngoại trú của tỉnh ĐắcLắc năm 2012 cho thấy, những bệnh nhân tiếp cận với điều trị ARV tại các địa điểm nghiên cứu là khá muộn. Số tế bào CD4 trung bình khi bắt đầu điều trị ARV là 137,8 tế bào/ml máu, rất thấp so với tiêu chuẩn bắt đầu điều trị của Bộ Y tế quy định. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy trung bình xét nghiệm CD4 tăng lên 235,5 tế bào/ml máu sau 6 tháng điều trị và 322,9 tế bào/ml máu sau 12 tháng điều trị ARV.
Nguyên Khải