Tác giả nghiên cứu Nguyễn Xuân Thực- Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội, tiến hành nghiên cứu biến chứng của răng khôn hàm dưới mọc lệch gần từ tháng 9/2014 đến tháng 8/2015; có 106 đối tượng nghiên cứu tham gia nghiên cứu.

Theo tác giả nghiên cứu, số đối tượng đã từng bị biến chứng sưng đau nhiều lần cũng chiếm tỷ lệ không nhỏ (21,7%). Điều này cho thấy sự quan tâm đến sức khỏe răng miệng của đối tượng nghiên cứu nói chung là chưa tốt. Nguyên nhân thì có nhiều, trong đó nổi bật là tâm lý sợ phải đụng chạm tới răng khôn vì cho là nguy hiểm, họ thường xuyên tự chịu đựng, tự mua thuốc điều trị mỗi khi sưng đau, chỉ đến khi không thể chịu đựng được nữa họ mới đi khám, Khi ấy, sức khỏe đã bị ảnh hưởng, điều trị tốn kém về cả thời gian và tiền bạc. Kết quả này cũng tương đồng với một số nghiên cứu khác của các tác giả nước ngoài khi nghiên cứu trên cùng đối tượng bệnh nhân điều trị nội viện.
Khi tổng hợp các biến chứng của răng khôn hàm dưới lệch gần, viêm mô tế bào là biến chứng nặng nhất và cũng gặp nhiều nhất với tỷ lệ 59,4%. Biến chứng viêm mô tế bào là biến chứng cần được can thiệp sớm và kịp thời vỡ ngay khi có nguy cơ áp xe, nhiễm khuẩn huyết, có khi ảnh hưởng đến tính mạng. Chính vì vậy, các dạng biến chứng này cần phải được theo dõi chặt và điều trị tại bệnh viện, do vậy biến chứng này gặp nhiều nhất là điều dễ lý giải bởi lẽ đối tương nghiên cứu trong nghiên cứu này là những bệnh nhân nội trú.
Biến chứng viêm xương với các biểu hiện lỗ rò phần mềm vùng mỏ hoặc dưới hàm chiếm tỷ lệ 17%. Đây cũng là biến chứng không hề đơn giản về cách giải quyết, đồng thời chính điều này cũng phản ánh đây là một dạng biến chứng được phát hiện và điều trị muộn. Quá trình viêm nhiễm kéo dài, tái đi tái lại nhiều lần dẫn đến tình trạng viêm lây lan gây viêm xương hàm, mủ và chất tiết len lỏi qua các thớ cơ các rãnh gờ xương hàm để đổ ra phần mềm ngoài má hoặc dưới hàm tương ứng. Về điều trị biến chứng dạng này cần phải phối hợp giữa dùng thuốc kháng sinh đường toàn thân và can thiệp thủ thuật, bao gồm cả nhổ răng khôn hàm dưới lệch nguyên nhân, kết hợp với phẫu thuật cắt nạo và tạo lõm tại đường rũ. Nếu chỉ điều trị đơn thuần một phương pháp sẽ thất bại. Trong tổng số 18 ca rũ phần mềm trong nghiên cứu này, nhiều ca đã từng được điều trị ở tuyến dưới nhưng vẫn tái phát vì không điều trị đúng cách, trong đó có bệnh nhân chỉ được cắt nạo đường rò, có bệnh nhân chỉ được nhổ răng nguyên nhân đơn thuần.
Biến chứng viêm lợi trùm hay còn gọi là viêm túi răng khôn chiếm tỷ lệ thấp với 4,7%. Kết quả này có sự khác biệt với một số nghiên cứu khác. Viêm lợi trùm là khởi điểm mọi biến chứng của răng khôn hàm dưới lệch, nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, có thể chúng sẽ tiến triển theo chiều hướng xấu. Trong nghiên cứu này, viêm lợi trùm đơn thuần chỉ chiếm tỷ lệ thấp là do hầu hết các đối tượng nghiên cứu đều đến muộn khi đã có biến chứng nặng, viêm nhiễm đã nặng lên thành các dạng viêm tấy lan tỏa, viêm cơ cắn gây khít hàm…
Ngoài nhóm biến chứng nhiễm trùng, nghiên cứu cũng nghi nhận biến chứng cơ học, mà chủ yếu là tổn thương răng 7 do răng khôn hàm dưới lệch gần gây ra. Đây cũng là một dạng biến chứng đặc trưng của kiểu lệch gần răng khôn hàm dưới. Khi răng khôn hàm dưới lệch gần có một phần thân răng nhô lên sẽ tạo ra kẽ dắt thức ăn ở phía rìa xa răng 7. Vị trí này rất khó vệ sinh răng miệng, không thể dễ dàng lấy hết được các mãnh vụn thức ăn dắt vào kẽ này vì lông bàn chải không tới, còn tăm hay chỉ tơ nha khoa cũng khó vào. Vị trí này luôn lắng đọng thức ăn gây viêm lợi, mùi hôi khó chịu và đặc biệt sẽ gây sâu mặt xa răng 7 hoặc mặt nhai răng khôn hàm dưới. Sâu mặt xa răng 7 trong trường hợp này rất khó phát hiện, khi có triệu chứng như ê buốt răng, hay đau thì thường là đã muộn, khi ấy lỗ sâu thường khá lớn, sát tủy, hoặc có khi đã gây chết tủy răng và xa hơn là gây viêm quanh cuống hoặc thậm chí gây vỡ và mất răng 7 do sâu răng.
Nghiên cứu này cho thấy biến chứng cơ học chiếm tỷ lệ 13,2% trong tổng số đối tượng nghiên cứu. Trong đó, sâu mặt xa răng 7 đơn thuần chiếm 50%; mất răng 7 do sâu chiếm 37,7% và viêm tủy, viêm quanh cuống răng 7 do hậu quả của sâu mặt xa là 14,3%. Để biến chứng này xảy ra thật đáng tiếc vì nếu không được can thiệp sớm và đúng cách thì hậu quả là mất răng 7, sẽ làm giảm đáng kể lực ăn nhai bên đó. Mất răng 7 không chỉ ảnh hưởng đến chức năng ăn, nhai mà còn ảnh hưởng đến cả chức năng thẩm mỹ, vì nhóm răng hàm má sẽ bị móp gây già nua trước tuổi. Việc phục hình lại răng 7 đã mất trong trường hợp này cũng rất khó khăn và tốn kém, vì không còn răng giới hạn phía xa, nên không thể tiến hành làm cầu răng để phục hình răng 7, do đó chỉ có thể làm hàm tháo lắp hoặc cấy răng implant, tác giả nhấn mạnh.
Hữu Cao