
Ung thư cổ tử cung là một trong những ung thư hay gặp ở nữ giới, chiếm khoảng 12% của tất cả các ung thư ở nữ giới và nguyên nhân gây tử vong thứ hai sau ung thư vú. Ở Châu Âu và Bắc Mỹ ung thư cổ tử cung có tỷ lệ 10-20/100.000 phụ nữ mỗi năm.
Ở Nam Mỹ tỷ lệ 60/100.000 phụ nữ. Điều tra của Việt Nam năm 1994 ung thư cổ tử cung có 7,7/100.000 dân; Gần đây ghi nhận của Bệnh viện Ung Bướu TP Hồ Chí Minh tỷ lệ này là 35/100.000 dân. Các báo cáo dịch tễ học cho thấy ung thư cổ tử cung ở TP Hồ Chí Minh có tỷ lệ cao gấp 4 lần so với TP Hà Nội. Những năm gần đây tỷ lệ bệnh ở TP Hồ Chí Minh giảm, còn TP Hà Nội có số trường hợp bệnh tăng lên. Tỷ lệ bệnh được điều trị khỏi nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm là 90%; tỷ lệ chữa khỏi cho mọi giai đoạn ung thư cổ tử cung chỉ đạt khoảng 60%. Ung thư cổ tử cung là loại ung thư tiến triển chậm, nhiều năm. Nếu khám sàng lọc phát hiện bệnh sớm sẽ mang lại hiệu quả điều trị bệnh rất cao.
Nhóm tác giả nghiên cứu Bùi Diệu, Trần Văn Thuấn cùng cộng sự Bệnh viện K, Đại học Y tế công cộng Hà Nội tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá chất lượng sống của người bệnh ung thư cổ tử cung”. Nghiên cứu được tiến hành tại 4 Bệnh viện là Bệnh viện K, Bệnh viện Ung bướu TP Hồ Chí Minh, BV Ung bướu Hà Nội và Bệnh viện ung thư Đà Nẵng.
Báo cáo phân tích của tác giả Bùi Diệu cho thấy có 326 bệnh nhân đủ điều kiện tham gia nghiên cứu. Độ tuổi đối tượng nghiên cứu từ 35-60. Người bệnh được chẩn đoán ung thư cổ tử cung giai đoạn I chiếm tỷ lệ cao 42,6%; giai đoạn 2 chiếm 38,7%; giai đoạn 3 có tỷ lệ 12%; giai đoạn 4 chiếm 6,7%. Thời điểm điều tra đa số người bệnh vừa hoàn thành đợt điều trị tia xạ (44,8%). Tỷ lệ bệnh nhân có thẻ bảo hiểm y tế chiếm gần 94%.
Bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống được nhóm nghiên cứu sử dụng là QLQ-C30 và EQ-5D. Các khía cạnh phân tích gồm sức khỏe tổng quát, chức năng thể chất, chức năng hoạt động, chức năng cảm xúc, chức năng nhận thức, chức năng xã hội, triệu chứng mệt mỏi, buồn nôn, đau, mất ngủ, chán ăn, thở nhanh, táo bón, tiêu chảy và khó khăn về mặt tài chính cũng được đưa ra phân tích.
Kết quả nghiên cứu cho thấy điểm chất lượng cuộc sống tổng quát của người bệnh ung thư cổ tử cung ở mức trên trung bình (69,99 điểm). So sánh các điểm chất lượng cuộc sống ở các chức năng khác nhau, điểm chất lượng cuộc sống chức năng cảm xúc có 67,4 điểm là thấp nhất. Điểm chất lượng cuộc sống chức năng nhận thức đạt 88,29 điểm là cao nhất. Điểm chức năng hoạt động đạt 79,35 điểm, điểm chức năng xã hội đạt 68,87 điểm. Điểm chức năng thể chất ở mức trung bình 81,9 điểm.
Khi so sánh các lĩnh vực triệu chứng thì triệu chứng mệt mỏi, đau, mất ngủ và chán ăn là những triệu chứng thường gặp nhất của người bệnh. Các triệu chứng buồn nôn, táo bón và tiêu chảy ít gặp với điểm trung bình dưới 10 điểm. Vấn đề tài chính có điểm trung bình khá cao 48,77 điểm.
Tuổi của đối tượng nghiên cứu có mối liên quan với các chỉ số chức năng hoạt động, chức năng nhận thức, chức năng xã hội và các triệu chứng đau, mệt mỏi, mất ngủ và chán ăn.

Nhóm tác giả nghiên cứu kết luận các chỉ số có ảnh hưởng đến điểm chất lượng cuộc sống sức khỏe tổng quát của ung thư cổ tử cung là tuổi, đang kết hôn, điều trị bằng hóa chất, có xuất hiện tác dụng phụ, chỉ số chức năng hoạt động, chỉ số chức năng nhận thức, chỉ số triệu chứng mệt mỏi và chỉ số triệu chứng mất ngủ.
Những người bệnh có độ tuổi cao hơn, đang kết hôn, thang điểm chức năng thể chất cao hơn là yếu tố tiên lượng người bệnh có chất lượng cuộc sống tốt.
Về điều trị bằng phương pháp hóa chất, có xuất hiện các tác dụng phụ không mong muốn, có thang điểm chức năng nhận thức cao hơn, thang điểm triệu chứng mệt mỏi và mất ngủ cao hơn là các yếu tố tiên lượng người bệnh ung thư cổ tử cung có chất lượng cuộc sống thấp hơn.
Ung thư cổ tử cung mọc từ các tế bào của cổ tử cung, phần dưới của tử cung nối với âm đạo. Có vài dòng vi rút HPV là nguyên nhân gây ra bệnh. Hệ miễn dịch của phụ nữ chống lại tốt sự nhiễm vi rút HPV. Tuy nhiên, ở một ít phụ nữ, vi rút HPV sống sót nhiều năm, làm tế bào ở lớp lót cổ tử cung trở thành tế bào ung thư.
Hữu Cao