
Bệnh thận đái tháo đường týp 2 là nguyên nhân chính chiếm tỷ lệ cao của suy thận mạn giai đoạn cuối hiện nay tại các nước phát triển. Tăng microalbumin niệu phản ánh không những nguy cơ sớm của bệnh thận đáo tháo đường mà còn là dấu chỉ điểm biến chứng tim mạch ở bệnh nhân tiền đái tháo đường và đái tháo đường týp 2.
Trong bệnh đái tháo đường týp 2, bệnh nhân có thể có microalbumin niệu ngay khi phát hiện bệnh do thời gian tiền lâm sàng đái tháo đường trước đó là tiền đái tháo đường. Thông qua đánh giá sự xuất hiện của microalbumin niệu, các nhà lâm sàng có thể dùng thuốc để làm giảm microalbumin niệu cũng như giảm áp lực cầu thận. Như vậy, việc khảo sát microalbumin niệu là cần thiết với việc dự phòng, theo dõi và điều trị biến chứng thận ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2. Tuy nhiên, thực tế cho thấy phần lớn bệnh nhân đái tháo đường týp 2 chỉ được phát hiện biến chứng thận sau nhiều năm tiến triển âm thầm của bệnh.
Từ tháng 3/2015 đến tháng 11/2015, BS.Trần Nam Quân- Trung tâm Nội tiết tỉnh Khánh Hòa- tiến hành đề tài “Nghiên cứu microalbumin niệu và các yếu tố nguy cơ có liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 phát hiện lần đầu”.
Đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân đái tháo đường týp 2 được phát hiện lần đầu tại Trung tâm Nội tiết Khánh Hòa. Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường dựa theo ADA 2013, nghiên cứu sử dụng tiêu chuẩn Glucose huyết tương tĩnh mạch lúc đói > 7mmol/l và được xét nghiệm 2 lần ở hai thời điểm khác nhau để chẩn đoán đái tháo đường.
Về microalbumin niệu được định lượng bằng phương pháp miễn dịch đo độ đục. Những phân tử Latex được bao phủ bởi những kháng thể kháng albumin người sẽ bị kết dính lại khi được trộn lẫn với albumin niệu có trong mẫu. Sự kết dính này sẽ làm thay đổi mật độ quang và lượng microalbumin niệu có trong mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân sẽ được định lượng bằng cách so sánh với đường cong chuẩn microalbumin đã biết trước nồng độ.
Theo tiêu chuẩn Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ 2011, lấy mẫu nước tiểu ngẫu nhiên microalbumin niệu khi có 30-299 µg/mg creatinin niệu, còn dưới 30 là bình thường.
Theo báo cáo của BS.Trần Nam Quân, có 252 đối tượng nghiên cứu đủ điều kiện tham gia; tỷ lệ đối tượng nghiên cứu dưới 45 tuổi chiếm 53,6%; nam giới chiếm 34,1%, nữ giới chiếm 65,9%. Tỷ lệ đối tượng có chỉ số BMI < 23 là 33,3%; BMI > 23 là 66,7%; đối tượng nghiên cứu có vòng bụng nguy cơ chiếm 64,7%. Nhóm đối tượng nghiên cứu có tăng huyết áp chiếm 48%; nhóm có rối loạn lipit máu chiếm gần 90%.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ microalbumin niệu ở đối tượng đái tháo đường týp 2 lá 15,5%; nồng độ microalbumin niệu trung bình ở người đái tháo đường týp 2 là 32,3 + 50,5(µg/mg).
Về mối liên quan giữa microalbumin niệu với các yếu tố nguy cơ có liên quan, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ microalbumin niệu dương tính của bệnh nhân đái tháo đường týp 2 ở đối tượng > 45 tuổi là 17,9% cao hơn so với đối tượng đái tháo đường < 45 tuổi với tỷ lệ 13,3% (p>0,05). Ở đối tượng có tiền sử gia đình có liên quan đến bệnh đái tháo đường là 42,2% cao hơn so với đối tượng có chỉ số BMI < 23 là 3,6% (p<0,05). Ở đối tượng thừa cân, béo phì (chỉ số BMI > 23) là 21,4% cao hơn so với đối tượngcó chỉ số BMI < 23 là 3,6% (p<0,05). Ở đối tượng có vòng bụng có nguy cơ chiếm tỷ lệ là 21,5% cao hơn so với đối tượng không có vòng bụng có nguy cơ là 4,5% (p<0,05). Ở đối tượng có tăng huyết áp là 28,9% cao hơn so với đối tượng không có tăng huyết áp là 3,1% (p<0,05). Ở đối tượng có rối loạn lipid máu chiếm tỷ lệ là 16,8% cao hơn với nhóm đối tượng không có rối loạn lipid máu chỉ chiếm tỷ lệ là 3,8% (p<0,05).
BS.Trần Nam Quân đã đưa ra kiến nghị đối với các bệnh nhân có microalbumin niệu dương tính cần dùng thuốc ức chế men chuyển hoặc ức chế thụ thể angiotensin và kiểm soát tốt huyết áp, lipid máu để làm giảm sự tiến triển của bệnh thận đái tháo đường. Xét nghiệm microalbumin niệu sớm không những ở đối tượng đái tháo đường mà cả đối tượng tiền đái tháo đường để dự phòng và điều trị sớm các biến chứng thận do đái tháo đường.
Cần quan tâm đến các đối tượng có các yếu tố nguy cơ như thừa cân, béo phì, tăng vòng bụng có nguy cơ, tiền sử gia đình có liên quan đến bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp và rối loạn lipid máu trong việc tầm soát microalbumin niệu trong điều trị bệnh đái tháo đường.
Nghi Anh