
Nghiên cứu “Mối tương quan giữa các biểu hiện lâm sàng và mức độ thay đổi điện sinh lý ở bệnh nhân mắc hội chứng ống cổ tay” năm 2015, được thực hiện trên 84 bệnh nhân của tác giả Bùi Thị Ngọc cùng cộng sự Đại học Y Hà Nội cho thấy triệu chứng lâm sàng hay gặp nhất là rối loạn cảm giác kiểu tê bì chiếm tỷ lệ 95,5% và đau kim châm, kiến bò chiếm tỷ lệ 53,7%, là những triệu chứng được coi là kinh điển, có ý nghĩa cảnh báo cho hội chứng ống cổ tay.
Giá trị trung bình thông số điện sinh lý trên nhóm bệnh nhân lớn hơn so với người bình thường và được chia làm 3 mức độ tổn thương dựa theo tiêu chuẩn của Robert A: Độ nhẹ (I): DSLm kéo dài và DMLm bình thường. Chưa có biểu hiện của tổn thương sợi trục. Độ vừa (II): DSLm và DMLm đều bất thường, kéo dài; Chưa có biểu hiện của tổn thương sợi trục. Độ nặng (III): DSLm và DMLm đều kéo dài; Kèm theo biểu hiện của tổn thương sợi trục như: giảm biên độ hoặc mất (không ghi được) đáp ứng cảm giác hay vận động, hoặc ghi điện cơ kim có hình ảnh mất phân bố thần kinh tại vị trí cơ ô mô cái.
Theo phân tích của BS. Bùi Thị Ngọc, tổn thương giai đoạn đầu của dây thần kinh giữa khi bị chèn ép với biểu hiện phù nề, vì thế chức năng tổn thương sớm là rối loạn cảm giác. Việc ghi điện thế kích thích cảm giác có thể có hoặc chưa có. Vì thế giá trị điện sinh lý ở nhóm bệnh nhân với biểu hiện rối loạn cảm giác có thể chưa có thay đổi. Biểu hiện lâm sàng của nhóm bệnh nhân tương ứng với giá trị chỉ số điện sinh lý với hầu hết 55,1% có mức tổn thương độ vừa, độ II, 18,4% tổn thương mức độ nhẹ, độ I.
Các biểu hiện lâm sàng xuất hiện tiếp sau với tê bì, đau như kim châm, đau tăng về đêm, đau kéo dài là biểu hiện giai đoạn tổn thương tiếp theo của sự chèn ép. Chèn ép kéo dài gây hiện tượng tăng áp lực ở các mạch máu nuôi dưỡng, từ đó làm tích tụ các protein, các tế bào viêm, sản phẩm của quá trình viêm là nguyên nhân khiến bệnh nhân tăng cảm giác đau. Ở một số bệnh nhân có biểu hiện hơi phù nề khu trú khu vực nếp gấp cổ tay. Đau có thể đau là nguyên nhân làm hạn chế khả năng vận động của bệnh nhân tuy chưa có biểu hiện tổn thương thần kinh và cơ chi phối. Ở giai đoạn này sự dẫn truyền tín hiệu trên sợi trục biểu hiện rõ hơn là do đã có bắt đầu thoái hóa vỏ bọc myeline, sợi trục thường chưa có tổn thương, chưa bị thoái hóa. Dấu hiệu Tinnel có thể âm tính.
Tỷ lệ bệnh nhân biểu hiện đau kéo dài, đau tăng về đêm trong nghiên cứu là 30,8%. Giai đoạn muộn của bệnh, bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng bằng hạn chế vận động hoặc muộn hơn nữa là teo cơ gặp lần lượt là 23,5% và 16,2% trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu, giai đoạn này bắt đầu có biểu hiện tổn thương sợi trục, sợi thần kinh sẽ xuất hiện thoái hóa một số sợi. Rối loạn cảm giác dạng mất cảm giác biểu hiện khá rõ trên bệnh nhân ở giai đoạn này. Bệnh nhân và giảm khả năng vận động, tổn thương kéo dài và nếu không được can thiệp kịp thời việc thoái hóa sợi trục sẽ nghiêm trọng hơn, khả năng tái tạo sợi trục tổn thương giảm, mô sẹo hình thành, biểu hiện lâm sàng sẽ là tình trạng tê, đau thường xuyên và teo cơ. Giá trị điện sinh lý ở giai đoạn này có tổn thương rõ ràng với mức tổn thương độ nặng, độ III.
Về tương quan giữa biểu hiện lâm sàng và giá trị điện sinh lý, tác giả nghiên cứu báo cáo mức độ thay đổi giá trị điện sinh lý khá tương ứng với mức độ biểu hiện trên lâm sàng, những bệnh nhân có tổn thương điện sinh lý mức độ nặng cũng tương ứng với nguy cơ biểu hiện lâm sàng giai đoạn muộn. Chẩn đoán điện được sử dụng giúp khẳng định các biểu hiện tổn thương dây thần kinh giữa mà nhiều khi triệu chứng lâm sàng chưa rõ cũng như chẩn đoán phân biệt hội chứng ống cổ tay với các tổn thương thần kinh khác, giúp đánh giá mức độ tổn thương dây thần kinh, đánh giá tiến triển, đáp ứng điều trị từ đó giúp bác sĩ xác định phác đồ điều trị phù hợp, điều trị nội khoa hay điều trị phẫu thuật giải ép. Điều này rất quan trọng giúp bệnh nhân tránh được nguy cơ mất chức năng bàn tay.
Chúng ta biết rằng hội chứng ống cổ tay gây ra bởi sự chèn ép dây thần kinh giữa đoạn qua ống cổ tay, biểu hiện bằng các rối loạn cảm giác như tê bì, dị cảm, và đau, đau như kim châm, bỏng buốt đầu ngón tay một, hai, ba, và nửa ngoài ngón bốn. Đau thường tăng về đêm làm cho bệnh nhân thức giấc và phải xoay lắc cổ tay để đỡ đau. Giai đoạn muộn biểu hiện hạn chế vận động cổ tay và bàn tay, bệnh nhân gặp khó khăn khi thực hiện động tác gấp cổ tay như gài cúc áo, cầm nắm các vật nhỏ. Nếu không được phát hiện và can thiệp kịp thời bệnh có thể tiến triển đến giai đoạn nặng hơn biểu hiện bằng teo cơ, thường là teo cơ ô mô cái. Chẩn đoán điện sinh lý là một phương pháp hữu hiệu, có độ nhạy, độ đặc hiệu khá cao trong chẩn đoán hội chứng ống cổ tay, thường được áp dụng để đánh giá các rối loạn nghẽn dẫn truyền thần kinh giữa, khảo sát các tổn thương thần kinh ngoại vi như thoái hóa thần kinh dạng hủy myelin, thoái hóa sợi trục, vì thế ở giai đoạn đầu của chèn ép thần kinh giữa gây phù nề hoặc những giai đoạn sau khi có tổn thương thực thể ở sợi thần kinh, khảo sát thời gian tìm cảm giác và vận động sẽ giúp đánh giá được mức độ tổn thương của bệnh.
Hồng Sơn