
Từ tháng 1/2014 đến tháng 12/2014, BS Nguyễn Văn Hùng đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nhận xét tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong khám ngoại trú bảo hiểm y tế tại Phòng khám đa khoa khu vực Cam Phúc Bắc”.
Đối tượng nghiên cứu là tất cả các bệnh nhân khám bệnh bảo hiểm y tế điều trị ngoại trú tại Phòng khám đa khoa khu vực Cam Phúc Bắc, phân tích tất cả các đơn thuốc lưu tại Phòng khám đa khoa khu vực Cam Phúc Bắc đối với nhóm bệnh nhân khám bảo hiểm y tế điều trị ngoại trú năm 2014.
Kết quả nghiên cứu, theo BS Hùng trong số 24.874 đơn thuốc có 14.524 đơn có chỉ định sử dụng kháng sinh, chiếm tỷ lệ gần 60%. Tổng chi phí cho việc sử dụng kháng sinh chiếm tỷ lệ hơn 23% trên tổng số tiền thuốc sử dụng.
Kháng sinh được sử dụng phần lớn cho các bệnh về hô hấp, nhóm bệnh tai và xương chũm, tiếp đến là bệnh mắt và cơ xương khớp. Các bệnh thuộc nhóm hệ tuần hoàn, hệ tiêu hóa và hệ nội tiết có tỷ lệ sử dụng kháng sinh ít.
Kháng sinh nhóm β – Lactam có tỷ lệ sử dụng nhiều nhất trong đó tập trung vào 02 loại Amoxicillin, Cephalexin.
Kháng sinh nhóm Imidazol (Metronidazol) được sử dụng phối hợp với kháng sinh nhóm β – Lactam hoặc nhóm Quinolon trong điều trị các bệnh lý dạ dày ruột, bệnh răng miệng và viêm cơ xương khớp.
Hầu hết các kháng sinh sử dụng tại Phòng khám đa khoa khu vực Cam Phúc Bắc đều có trong danh mục do Bộ Y tế quy định dùng cho tuyến y tế cơ sở.
Đối với nhóm bệnh nhiễm khuẩn hô hấp, nhiễm khuẩn cơ xương khớp và mô liên kết thì kháng sinh Cephalexin, Amoxicillin là kháng sinh được sử dụng nhiều nhất.
Đối với nhóm bệnh nhiễm khuẩn tiêu hóa, kháng sinh Metronidazol được sử dụng nhiều nhất tiếp đến là Amoxicillin.
Đối với nhóm bệnh nhiễm khuẩn tiết niệu – sinh dục kháng sinh Ciprofloxacin thuộc nhóm Quinolon có tỷ lệ sử dụng cao nhất.
BS Nguyễn Văn Hùng đã đưa ra những khuyến nghị cụ thể đó là, cán bộ y tế cần thực hành sử dụng kháng sinh hợp lý và an toàn để giảm nguy cơ tác dụng có hại do kháng sinh và đặc biệt là tình trạng kháng kháng sinh đang là mối nguy cơ rất lớn trên toàn cầu.
Hạn chế việc sử dụng kháng sinh, giảm chi phí sử dụng kháng sinh trong điều trị cần nâng cao ý thức của người dân trong việc phòng bệnh hơn là chữa bệnh bằng cách tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về các bệnh truyền nhiễm, các bệnh lây lan qua đường hô hấp, giữ gìn vệ sinh môi trường …
Nhóm kháng sinh β – Lactam là nhóm thuốc được sử dụng nhiều nhất trong các nhóm thuốc được dùng tại Phòng khám đa khoa khu vực Cam Phúc Bắc, vì vậy rất dễ gây hiện tượng kháng kháng sinh do thuốc thế hệ cũ, vì vậy cần cung ứng thêm nhóm thuốc Cephalosporin thế hệ 2, 3 để làm giảm sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn vì hiện nay nhóm Cephalosporin thế hệ 1 được sử dụng rộng rãi và nhiều nhất. Thực hiện điều này cũng là giải pháp để giảm số lần tái khám và giảm chi phí sử dụng kháng sinh trong lần khám tiếp theo do chưa hết bệnh.
Để hạn chế chi phí sử dụng kháng sinh cần cung ứng nhóm thuốc kháng virus để tránh sự phóng tay kê đơn kháng sinh do triệu chứng của nhiễm virus gần giống với triệu chứng của nhiễm vi khuẩn mà tại tuyến cơ sở chỉ dựa vào khám lâm sàng để chẩn đoán bệnh.
Cũng theo BS Hùng, để không xảy ra tình trạng vi khuẩn kháng kháng sinh, cán bộ y tế cần lưu ý chỉ sử dụng kháng sinh khi thật sự bị bệnh nhiễm khuẩn. Thầy thuốc điều trị dựa vào kinh nghiệm chữa bệnh, dựa vào xét nghiệm, làm kháng sinh đồ mới xác định được có nhiễm khuẩn hay không.
Phải chọn đúng loại kháng sinh. Nếu chọn dùng kháng sinh không đúng loại bệnh thuốc sẽ không có hiệu quả.
Phải có sự hiểu biết về thể trạng người bệnh. Đặc biệt đối với các phụ nữ có thai, người già, người bị suy gan, suy thận, chỉ có thầy thuốc điều trị mới có đủ thẩm quyền cho sử dụng kháng sinh.
Phải dùng kháng sinh đúng liều, đúng cách.
Phải dùng kháng sinh đủ thời gian. Tùy theo loại bệnh và tình trạng bệnh thời gian dùng kháng sinh có khi dài khi ngắn nhưng thông thường là không dưới 5 ngày.
Chỉ phối hợp nhiều loại kháng sinh khi thật cần thiết.
Phòng ngừa bằng thuốc kháng sinh phải thật hợp lý. Chỉ có những trường hợp đặc biệt thầy thuốc mới cho dùng thuốc kháng sinh gọi là phòng ngừa. Chẳng hạn như dùng kháng sinh phòng ngừa trong phẫu thuật do nguy cơ nhiễm khuẩn hậu phẫu hoặc người bị viêm nội tâm mạc đã chữa khỏi vẫn phải dùng kháng sinh để ngừa tái nhiễm.
Anh Huy