
Theo báo cáo của UBND TP Cam Ranh, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giai đoạn 2011 – 2015 toàn thành phố có giảm. Năm 2011 tỷ lệ này là 11,05%; cuối năm 2014 giảm còn 8,98%. Trong 6 tháng đầu năm 2015 tỷ lệ này là 8,87%. Tuy nhiên đánh giá chung tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm nhưng chưa có sự ổn định.
Từ tháng 2/2015 đến tháng 9/2015, tác giả Võ Văn Dương đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá nhận thức về Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) ở phụ nữ sinh 2 con tại thôn Bình Lập, xã Cam Lập, thành phố Cam Ranh năm 2015”. Đối tượng nghiên cứu là 100 phụ nữ có 2 con tại thôn Bình Lập, xã Cam Lập.
Theo báo cáo nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu có trình độ học vấn lớp 4 – 9 chiếm nhiều nhất gần 80%; trong đó lớp 4 – 6 chiếm gần 60%. Hơn một nữa đối tượng nghiên cứu làm công việc nội trợ, 30% tham gia lao động nông, ngư nghiệp; 3% tham gia công việc xã hội thường xuyên. Có 49% đối tượng nghiên cứu đã sinh 2 con là một bề trai hoặc gái. Nguồn tin về DS- KHHGĐ được tiếp cận nhiều nhất là từ Hội Phụ nữ, với tỷ lệ 63%; từ kênh truyền hình chiếm 41%; từ kênh họp dân chỉ 6%. Có 74% đối tượng nghiên cứu đã có sự chọn lựa để khoảng cách giữa 2 lần sinh phù hợp; 71% sinh con đầu lòng từ 22 tuổi. Về độ tuổi thôi không sinh con, có 72% đồng tình với sự lựa chọn tuổi 36 – 40 thôi sinh đẻ; không có ai chọn sinh con khi tuổi trên 45.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, quyết định lựa chọn số con trong gia đình 42% là do người chồng quyết định; quyền của người vợ chỉ là 28%. Đối với lợi ích của việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình, có 70% đồng ý từ lợi ích kinh tế, 56% đồng ý với lý do hạnh phúc gia đình, các lợi ích khác như tham gia công tác xã hội, vui chơi giải trí các đối tượng nghiên cứu ít quan tâm. Có đến 93% đối tượng nghiên cứu lựa chọn mô hình gia đình sinh đủ 2 con và dừng lại.
Tác giả nghiên cứu cũng báo cáo có 17% cặp vợ chồng đã có đủ 2 con nhưng không áp dụng biện pháp tránh thai hiện đại nào. Các cặp vợ chồng trong nghiên cứu hiện áp dụng biện pháp tránh thai uống viên tránh thai chiếm tỷ lệ 59%; đặt DCTC chiếm 13,2%; đình sản 2%. Có 5 ý kiến đối tượng nghiên cứu cho rằng lý do chấp nhận thực hiện kế hoạch hóa gia đình là do công tác vừa vận động, vừa bắt buộc của chính quyền địa phương. Có 8 ý kiến cho rằng gia đình có 2 con là ít, nên sinh thêm con để gia đình vui vẻ hơn hoặc sinh thêm con để có đủ cả trai và gái.
Tác giả Võ Văn Dương đã đưa ra những khuyến nghị do đặc điểm phụ nữ thôn Bình Lập sống không tập trung, trình độ học vấn hạn chế và đặc thù công việc ít tiếp xúc với hoạt động xã hội do vậy cần tăng cường tuyên truyền bằng nhiều hình thức về chính sách DS- KHHGĐ, trong đó cán bộ chuyên trách và cộng tác viên đề cao việc tuyên truyền, tư vấn trực tiếp đối tượng chưa áp dụng biện pháp tránh thai hoặc áp dụng nhưng có dấu hiệu không bền vững; để cặp vợ chồng hiểu được lợi ích của mô hình gia đình ít con (2 con) và những vấn đề trước đây do sinh đẻ nhiều không chỉ ảnh hưởng gia đình mình mà còn cho xã hội; vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên; vấn đề không lựa chọn giới tính khi sinh; tác giả nghiên cứu khuyến nghị ngân sách địa phương cần bố trí nguồn kinh phí hợp lý cho hoạt động công tác DS- KHHGĐ.
Chúng ta biết rằng, ngày 31/8/2012 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1199/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về DS- KHHGĐ giai đoạn 2012 – 2015 gồm 11 mục tiêu cụ thể, trong đó đến năm 2015 đạt: Tổng tỷ suất sinh (số con trung bình của một cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ) từ 2,0 năm 2010 giảm xuống còn 1,9; Quy mô dân số không vượt quá 93 triệu người; Tốc độ tăng dân số ở mức 0,1%; Mức giảm tỷ lệ sinh bình quân năm khoảng 0,1‰ trong giai đoạn 2012 – 2015; Giảm tốc độ tăng nhanh tỷ số giới tính khi sinh, để đến năm 2015 số giới tính khi sinh không vượt quá 113.
Phạm vi, địa bàn thực hiện Chương trình trên toàn quốc, cần tập trung giảm sinh ở vùng có mức sinh cao, vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn và duy trì mức sinh ở các vùng miền có mức sinh thấp; giảm tốc độ tăng tỷ số giới tính khi sinh; mở rộng sàng lọc và chẩn đoán trước sinh, sàng lọc và chẩn đoán sơ sinh, tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân, các can thiệp làm giảm nguy cơ suy giảm số lượng và chất lượng dân số. Và tổng mức đầu tư thực hiện Chương trình dự kiến từ các nguồn là 8.990 tỷ đồng.
Khoảng 4, Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014QH13 được Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều khoản trong luật ban hành ngày 19/6/2014 do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng ký và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015 là: Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình.
Trần Mai