Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là bệnh lý hô hấp có tỷ lệ mắc và tử vong khá cao. Ở Mỹ bệnh phổi tắc nghẹn mạn tính là 1 trong 3 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Việt Nam đứng đầu trong 12 nước khu vực Đông Nam Á về tỷ lệ mắc bệnh này, với tỷ lệ là 7%.

Theo các chuyên gia bệnh hô hấp, cùng với các thông số khí phổi, các thông số căng giãn phổi, sức cản đường thở rất quan trọng. Theo các chuyên gia quốc tế, vai trò của thăm dò căng giãn phổi để đánh giá toàn diện bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, đó là 1 trong 3 thành phần chính để đánh giá tiêu chí nặng của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cùng với tình trạng lâm sàng và hạn chế lưu lượng thở ra. Đối với kỹ thuật đo thể tích toàn thân (Whole body plethysmographie) là một phương pháp hiện đại, cho phép thăm dò chức năng hô hấp một cách toàn diện và chính xác cao.
Theo BS.Phạm Thị Phương Nam- Bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng, tại Việt Nam việc ứng dụng thăm dò chuyên sâu nhiều thông số chức năng hô hấp cho bệnh nhân bệnh viêm phổi tắc nghẽn mạn tính, đặc biệt là thông số thông khí tự ý tối đa, các thể tích cặn, sức cản đường thở còn chưa được áp dụng thỏa đáng.
Từ tháng 10/2013 đến tháng 3/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Thị Phương Nam cùng các cộng sự Bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng, Học viện Quân Y tiến hành nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Mối tương quan giữa các thông số chức năng hô hấp với mức độ nặng và kiểu hình của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính”. Nghiên cứu được thực hiện để xác định sự rối loạn các thông số khuếch tán phế nang mao mạch ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
Theo tác giả nghiên cứu có 117 đối tượng nghiên cứu tại Bệnh viện Quân Đội 103 tham gia nghiên cứu đo các thông số thông khí phổi, thể tích tĩnh, cơ học phổi. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính theo GOLD 2013 với chỉ số Geansler sau test phục hồi phế quản dưới 70%. Nghiên cứu sử dụng máy đo thể tích toàn thân Care Fusion được kiểm định về tính chính xác, độ ổn định, độ sai số cho phép và được chuẩn định hàng ngày. Đối tượng nghiên cứu được nghỉ ít nhất 15 phút, không dùng chất kích thích, thống nhất đo tư thế ngồi. Bệnh nhân được đo thông khí phổi, test phục hồi phế quản, thể tích phổi tĩnh, sức cản đường thở. Sau mỗi lần đo nghỉ 5 phút và thực hiện lại phép đo 3 lần. Kết quả giữa 2 lần không chênh nhau quá 10%.
BS. Phương Nam phân tích báo cáo, đối tượng nghiên cứu nam giới chiếm 98,3%, tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 65,7; chỉ số khối cơ thể BMI trung bình là 19,13. Theo GOLD 2013 phân bố bệnh nhân theo A,B,C,D; đối tượng nghiên cứu nhóm D là nhóm nhiều triệu chứng nhiều nguy cơ là nhiều nhất 54,8%. Như vậy, nhóm bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính thường nhập viện ở giai đoạn muộn, do vậy việc theo dõi chức năng hô hấp toàn diện góp phần quan trọng trong việc chẩn đoán và tiên lượng điều trị bệnh.
Tác giả nghiên cứu cho biết, đối tượng nghiên cứu có sự sụt giảm các thông số thông khí phổi, trong đó thông số thông khí tự ý tối đa (maximal voluntary ventilation- MVV) sụt giảm rõ rệt nhất; đây là thông số có giá trị để đánh giá bệnh cùng với những thông số hay dùng là VC, FEV1. Thông số MVV phản ánh tình trạng toàn bộ hệ cơ học hô hấp, kỹ thuật đo không phức tạp, kết quả cung cấp những thông tin thông khí rõ và sớm.
Tác giả nghiên cứu khuyến nghị, để điều trị bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính bằng giảm thể tích phổi, rất cần tiến hành thăm dò thông khí tự ý tối đa, từ đó giúp tiên lượng bệnh, lựa chọn kỹ thuật giảm thể tích phổi như đặt van hay phẫu thuật nội soi hoặc mở ngực, hạn chế tối đa nguy cơ biến chứng hô hấp sau phẫu thuật hoặc giúp tiên lượng nguy cơ biến chứng.
Tác giả nghiên cứu báo cáo, sự thay đổi đầu tiên về các thể tích phổi ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là tăng thể tích cặn (RV), khi bệnh nhân nặng hơn thì RV càng tăng và làm giảm dung tích sống; FRC và TLC cũng tăng. Tác giả nghiên cứu cho rằng, tăng sức cản đường thở là 1 dấu hiệu sớm trong chẩn đoán tắc nghẽn đường thở ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, lý do là đối với bệnh nhân sức cản những đường thở đường kính nhỏ hơn 2mm chiếm tới hơn 50% sức cản phổi chung, trong khi đó ở người khoẻ mạnh chỉ chiếm 25% mà tắc nghẽn đường thở nhỏ lại chính là giai đoạn sớm của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Do vậy, trên thực hành lâm sàng, thăm dò sức cản đường thở ít dùng do ít có ích lợi hơn so với phép đo FEV1; tuy nhiên đây là thông số có độ nhạy cao và khách quan trong chẩn đoán sớm bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, tác giả nhấn mạnh.
Tác giả nghiên cứu cũng chia sẻ, đối với những bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đợt cấp thường xuyên, lớn hơn 2 đợt/ năm; có sự sụt giảm mạnh về các thông số thông khí phổi và các thể tích dung tích phổi tĩnh (p<0,05). BS. Phạm Thị Phương Nam có kết luận, ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có sự sụt giảm các thông khí phổi, trong đó thông khí tự ý tối đa sụt giảm mạnh nhất; có sự gia tăng các thông số thăm dò căng giãn phổi và các thông số sức cản đường thở. Sự rối loạn này có tương quan với mức độ nặng của bệnh và kiểu hình bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Tác giả nghiên cứu lưu ý ngoài các thông số thông khí phổi VC, FEV1 rất cần thiết đo MVV, thể tích tĩnh, Raw qua đó giúp tiên lượng và điều trị tối ưu bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
Nghi Anh