Đục thủy tinh thể là một trong 4 nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa ở nước ta và trên thế giới. Đục thủy tinh thể chấn thương là một hậu quả thường gặp sau chấn thương xuyên thủng hay chấn thương đụng dập nhãn cầu.
Từ tháng 8/2015 đến tháng 7/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Quốc Đạt, bệnh viện Mắt Đà Nẵng tiến hành nghiên cứu mô tả, báo cáo đề tài “Đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị đục thủy tinh thể do chấn thương”. Tác giả nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị sau khi xuất viện, tái khám định kỳ sau thời gian một tuần, một tháng, 3 tháng và 6 tháng. Đối tượng nghiên cứu là mắt đục thể thủy tinh do chấn thương tại bệnh viện Mắt Đà Nẵng, có 118 bệnh nhân, nam giới chiếm 72,9% cao gấp hơn 2 lần so với nữ giới. Về nguyên nhân gây ra chấn thương, tỷ lệ nhiều nhất là do tai nạn sinh hoạt với 13,6% và tai nạn giao thông có tỷ lệ 1,7%. Đặc điểm lâm sàng, hình thái chấn thương nhãn cầu có 2 loại, chấn thương xuyên thủng 50,8%; chấn thương đụng dập chiếm 44,1%. Triệu chứng lâm sàng lúc bệnh nhân nhập viện, về thị lực, có 42,4% 50 mắt có thị lực sáng tối dương tính; có 38 mắt (32,2%) có thị lực từ bóng bàn tay đến nhỏ hơn đếm ngón tay 1 mét; có 12 mắt từ đếm ngón tay 1 mét đến nhỏ hơn đếm ngón tay 3 mét; có 10 mắt từ đếm ngón tay 3 mét đến nhỏ hơn 1/10; có 8 trường hợp thị lực từ 1/10 đến 2/10. Đối với nhãn áp lúc vào viện không đo được nhãn áp chiếm tỷ lệ đến gần 56%; nhãn áp ≤ 22mmHg 20 mắt (33,9%); nhãn áp từ 22 – 25 mmHg có 2 trường hợp; có 10 mắt nhãn áp cao hơn 25 mmHg.

BS Đạt cho biết, tổn thương phối hợp tại nhãn cầu; có 84 trường hợp tổn thương kết mạc; 110 trường hợp tổn thương giác mạc; 66 trường hợp tổn thương mống mắt; 38 trường hợp có tổn thương đồng tử méo; 34 trường hợp tổn thương dịch kính; 4 trường hợp tổn thương võng mạc và 14 trường hợp tổn thương củng mạc. Tác giả nghiên cứu phân tích do cấu trúc giải phẫu kết giác mạc nằm ở bán phần trước của nhãn cầu và không được che phủ nhiều bởi các cơ quan lân cận nên dễ bị tổn thương khi có sang chấn tại nhãn cầu.
Đối với phương pháp điều trị, tác giả nghiên cứu cho biết điều trị nội khoa chiếm tỷ lệ 42,4%; điều trị ngoại khoa chiếm tỷ lệ 57,6%. Những trường hợp được chỉ định điều trị nội khoa là những bệnh nhân có chấn thương nhãn cầu có tình trạng đục thủy tinh thể và những tổn thương kèm theo không đáng kể, sau điều trị nội khoa thị lực cải thiện tốt trên 3/10.
Tác giả nghiên cứu báo cáo, trong số phẫu thuật có 85,5% đặt thủy tinh thể nhân tạo, có 5 trường hợp lấy thủy tinh thể nhưng không đặt thủy tinh thể nhân tạo vì đục lệch thủy tinh thể kèm rách cả bao trước và bao sau thủy tinh thể, thoát dịch kính, rách mống mắt, tổn thương võng mạc, tiên lượng không cải thiện dù có đặt thủy tinh thể nhân tạo, có khi có thêm biến chứng do đặt thủy tinh thể nhân tạo gây nên.
Đối với kết quả điều trị về kết quả thị lực, nhóm thị lực 3/10 – 4/10 chiếm tỷ lệ nhiều nhất với 32,2%; nhóm thị lực 1/10 – 2/10 có tỷ lệ 20,3%; còn nhóm thị lực 9/10 – 10/10 chỉ có 2 trường hợp. Sau khi ra viện 1 tuần, thị lực 3/10 đến 4/10 chiếm tỷ lệ 32,8% không thay đổi, nhóm thị lực 5/10 – 6/10 tăng từ 8,6% lên 17,2%; nhóm thị lực 9/10 – 10/10 có 3 trường hợp.
Sau khi ra viện 1 tháng, thị lực 3/10 – 4/10 chiếm tỷ lệ 33,9%; tỷ lệ thị lực từ 1/10 đến 10/10 vẫn cao hơn thị lực từ sáng tối dương tính đến nhỏ hơn 1/10 (p < 0,01). Sau 3 – 6 tháng ra viện, tỷ lệ thị lực từ 1/10 đến 10/10 vẫn không có sự thay đổi mà chỉ có sự thay đổi giữa các nhóm thị lực cao với nhau. Sau 6 tháng, tác giả nghiên cứu đánh giá cho thấy có một trường hợp thị lực giảm từ 4/10 xuống mức sáng, tối dương tính; đây là trường hợp đục bao hoàn toàn.
Về biến chứng của phẫu thuật, BS Đạt báo cáo biến chứng viêm giác mạc khía chiếm 41,2%; có 20 trường hợp viêm màng bồ đào sau phẫu thuật (29,4%). Tuy nhiên sau 4-5 ngày điều trị bệnh cải thiện tốt, màng xuất tiết dần dần tiêu hết. Có 4 trường hợp sót chất nhân nhỏ. Về theo dõi biến chứng muộn, tỷ lệ đục bao sau phẫu thuật thủy tinh thể do chấn thương chiếm 17,2%; có 1 trường hợp đục hoàn toàn. Có 4 trường hợp bị lệch thủy tinh thể nhân tạo (6,9%); có 2 trường hợp bị bệnh thủy tinh nhân tạo nhưng mức độ lệch không đáng kể, không gây biến chứng nên tác giả nghiên cứu không can thiệp trở lại.
Tác giả nghiên cứu cho biết, ở Mỹ hàng năm có khoảng 2,4 triệu người chấn thương mắt; khoảng 20.000 – 40.000 người giảm thị lực đáng kể. Tổn thương thủy tinh thể chiếm gần 7% của tất cả những trường hợp chấn thương nhãn cầu tại Mỹ.
Trần Hưng