Viêm tai giữa tiết dịch là tình trạng ứ dịch của tai giữa phía sau màng nhĩ đóng kín nhưng không có các triệu chứng viêm cấp tính.

Theo các chuyên gia tai mũi họng đây là bệnh lý khá phổ biến, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây giảm sức nghe. BS Nhan Trường Sơn nhận xét tần suất của viêm tai giữa tiết dịch là 7,1%.
Bệnh viêm tai giữa tiết dịch diễn biến tiềm tàng, âm ỉ. Triệu chứng của bệnh không rầm rộ, dễ bị bỏ sót khi thăm khám. Bệnh là nguyên nhân dẫn đến biến chứng và di chứng như túi co kéo, viêm tai xơ dính, cholesteatoma. Theo nghiên cứu của tác giả Magran và Bremond, tỉ lệ hình thành cholesteatoma từ viêm tai giữa tiết dịch và xẹp nhĩ khoảng 30%. Triệu chứng nghe kém là triệu chứng chính trong viêm tai giữa tiết dịch, làm ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển ngôn ngữ, kết quả học tập cũng như khả năng giao tiếp.

Từ tháng 1/2015 đến 12/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Ngô Thanh Bình cùng cộng sự Trường Đại học Y Dược Thái Bình tiến hành nghiên cứu mô tả, báo cáo đề tài “Đặc điểm lâm sàng, thính lực và nhĩ lượng trong viêm tai giữa tiết dịch”. Đối tượng nghiên cứu có 33 bệnh nhân, 38 tai bị viêm tai giữa tiết dịch được điều trị phẫu thuật đặt ống thông khí hòm nhĩ tại khoa tai mũi họng, Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình. Bệnh nhân được khám lại đầy đủ và được đo thính lực sau phẫu thuật 1 tuần và 6 tháng. Đối với thính lực đơn âm, ngưỡng nghe đường khí và đường xương ở các tần số 500, 1000, 2000 và 4000 Hz, đơn vị tính dB. Ngưỡng nghe trung bình của 4 tần số 500, 1000, 2000 và 4000 Hz, đơn vị tính dB. Về Nhĩ lượng, hình dạng nhĩ đồ theo phân loại Jerger và Nguyễn Tấn Phong; đối với chỉ số về độ thông thuận là độ cao nhĩ đồ, đơn vị tính ml; đối với áp lực đỉnh nhĩ đồ là vị trí nhĩ đồ trên trục hoành, đơn vị tính daPa.
BS Ngô Thanh Bình phân tích, nhóm đối tượng nghiên cứu > 60 tuổi chiếm nhiều nhất với tỉ lệ 39,4%; trường hợp lớn tuổi nhất là 84 tuổi. Độ tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu 47 tuổi.
Tác giả nhận xét, tất cả đối tượng nghiên cứu màng nhĩ hơi lõm vào trong. Tác giả nghiên cứu nước ngoài Bluestone Mandel (1991) cho rằng trong những trường hợp viêm tai giữa tiết dịch kéo dài bao giờ cũng kèm theo tình trạng áp lực âm trong hòm tai. Chính áp lực âm này sẽ hút màng nhĩ lõm vào trong. Nếu tình trạng này kéo dài có thể dẫn tới xẹp nhĩ. BS Thanh Bình cho biết trong nghiên cứu, có hai trường hợp xẹp nhĩ độ 2. Mối liên quan giữa viêm tai giữa tiết dịch và xẹp nhĩ đã được nhiều nghiên cứu đề cập. Tác giả Tos và Poulser báo cáo nghiên cứu ở trẻ em bị viêm tai giữa tiết dịch trong 3 – 8 năm thấy 34% tiến triển thành xẹp nhĩ.
Tác giả Nguyễn Tấn Phong đưa ra giả thuyết quá trình tiến triển từ giai đoạn tắc vòi đến viêm tai giữa tiết dịch, xẹp nhĩ và cuối cùng là cholesteatoma.
BS Bình nhấn mạnh, việc chẩn đoán, điều trị sớm các trường hợp viêm tai giữa tiết dịch là rất quan trọng; ở giai đoạn này việc điều trị tương đối đơn giản với đặt ống thông khí kết hợp điều trị các nguyên nhân gây tắc vòi. Nếu bỏ qua, không điều trị không phát hiện sớm, bệnh tiến triển đến giai đoạn muộn như xẹp nhĩ độ 3, độ 4 thậm chí hình thành cholesteatoma; khi đó việc điều trị gặp nhiều khó khăn.
BS Bình báo cáo, có 6/38 trường hợp màng nhĩ bình thường, không co lõm. Đây là triệu chứng dễ gây nhầm lẫn, bỏ sót chẩn đoán viêm tai giữa tiết dịch. Bệnh được phát hiện ở giai đoạn muộn gây nhiều hậu quả nặng nề, đặc biệt là ảnh hưởng đến sức nghe. Tác giả lưu ý đối với những màng nhĩ có thay đổi màu sắc như dày đục, mất nón sáng hoặc màu vàng kèm theo có tiền sử viêm VA, viêm đường hô hấp trên cấp hoặc mạn tính thì nên đo nhĩ lượng để chẩn đoán sớm, tránh bỏ sót.
Trong nghiên cứu có 73,9% màng nhĩ trong, có bóng khí; màng nhĩ màu vàng hổ phách chiếm 7,9%. BS Bình nhận xét, màng nhĩ trong, có bóng khí là dấu hiệu rất có giá trị để chẩn đoán dịch trong hòm nhĩ. Màng nhĩ dày đục, mất nón sáng là triệu chứng có thể gặp trong nhiều trường hợp như sau: các đợt viêm VA, viêm đường hô hấp trên cấp hoặc mạn tính, các đợt viêm tai giữa tiết dịch trước đó nên rất dễ nhầm lẫn. Do vậy, BS Bình lưu ý; thăm khám lâm sàng kết hợp với đo nhĩ lượng là cần thiết để chẩn đoán xác định trong các trường hợp nghi ngờ, tránh bỏ sót. Tác giả cũng lưu ý, màu sắc màng nhĩ có thể chuyển từ xám sang vàng hoặc xanh tùy thuộc vào sự thay đổi màu sắc của dịch trong hòm nhĩ. Dịch màu xanh có thể do sự hình thành hạt cholesteral trong hòm nhĩ kết hợp với dịch keo màu nâu. Dịch màu xanh thường gặp trong các trường hợp viêm tai giữa tiết dịch kéo dài. Tác giả nghiên cứu, báo cáo đối chiếu màu sắc màng nhĩ khi thăm khám nội soi với loại dịch thu được sau khi chích rạch màng nhĩ, kết quả thanh dịch thường biểu hiện màng nhĩ trong; có bóng khí (73,7%). Màng nhĩ màu vàng hổ phách thường chứa dịch nhày keo (18,4%); giai đoạn muộn thường dịch nhày keo.
Về mức giảm thính lực trung bình là 36,03dB; ảnh hưởng phần nào sức nghe, giao tiếp của người bệnh. Những bệnh nhân có mức giảm thính lực lớn thường có nhiều dịch trong hòm tai, dịch thường keo, dính, khó hút sạch vì vậy nếu điều trị nội khoa đơn thuần sẽ khó hết được trong hòm nhĩ.
Thực hiện nhĩ đồ hình dạng thường gặp là dạng C (55,3%); dạng B (44,7%) phù hợp vì nguyên nhân hình thành viêm tai giữa tiết dịch là do rối loạn chức năng vòi tai.
Tường Huân