
Tác giả nghiên cứu cho rằng hội viên của hội y tế công cộng là người cao tuổi đã không làm việc toàn thời gian và họ có nhiều thời gian hơn để tham gia các hoạt động tại cộng đồng; hội viên của hội y tế công cộng là người cao tuổi có uy tín, được cộng đồng tuyển chọn, do vậy có tiếng nói và được mọi người tôn trọng để triển khai hoạt động sàng lọc và tuyên truyền cũng như đưa ra các lời khuyên hữu ích cho các đối tượng sử dụng rượu bia không hợp lý.
GS. Lê Vũ Anh, Lê Thị Kim Ánh- Trường Đại học Y tế Công Cộng, Hội Y tế Công Cộng Việt Nam- cùng cộng sự đã có báo cáo nghiên cứu “Đánh giá kết quả chương trình can thiệp giảm mức độ sử dụng rượu bia thông qua việc tham gia của hội viên y tế công cộng người cao tuổi”.
Đây là thiết kế nghiên cứu bán thực nghiệm không sử dụng nhóm đối chứng. Chương trình có 3 giai đoạn gồm trước can thiệp- tập huấn cho người cao tuổi tình nguyện và tổ chức các vòng đánh giá ban đầu; giai đoạn can thiệp và giai đoạn sau can thiệp (vòng đánh giá cuối).
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 11/2010 đến tháng 12/2011 tại xã Phương Công, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Trước khi thực hiện đánh giá ban đầu, các hội viên y tế công cộng người cao tuổi được đào tạo về kỹ năng truyền thông thay đổi hành vi, vấn đề tác hại của rượu bia và phương pháp đánh giá mức độ sử dụng rượu bia bằng bộ công cụ AUDIT (Alcohol Use Disorders Identification Test) từ hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới. Bộ công cụ AUDIT có 10 câu hỏi, mỗi câu hỏi được cho điểm từ 0-4. Mỗi vòng đánh giá cách nhau 4 tháng, trước mỗi vòng đánh giá các hội viên được đào tạo nhắc lại về việc đánh giá, rút kinh nghiệm và điều chỉnh các sai sót nếu có. Đối tượng nghiên cứu sử dụng hội viên y tế công cộng người cao tuổi, mỗi hội viên đảm nhiệm khảo sát và truyền thông tại 30 hộ gia đình xung quanh nhà của họ. Với tổng số 55 hội viên, có 1.650 hộ gia đình tại địa bàn xã Phương Công với 817 đối tượng được lựa chọn tham gia chương trình.
Kết quả nghiên cứu cho thấy độ tuổi tham gia nghiên cứu từ 18-60 tuổi, thỏa được điều kiện nghiên cứu là 782 đối tượng. Mỗi đối tượng, trong vòng 1 được mã hóa để quản lý và theo dõi can thiệp trong các vòng sau. Sự thay đổi số đối tượng không đáng kể qua vòng 2 và 3. Đến vòng 4 có đến 259 đối tượng mất theo dõi, do đối tượng rời khỏi địa bàn đi làm ăn xa. Đối tượng nghiên cứu ở nhóm 41-50 tuổi và 51-60 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 32%; nhóm 18-30 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất với 12,8%. Với kết quả sử dụng mô hình SBI (Screening and Brief Intervention) của Tổ chức Y tế Thế giới, mức độ sử dụng rượu bia ở các nhóm tuổi phù hợp với kết quả áp dụng can thiệp BRIEF có hiệu quả. Chương trình can thiệp chủ yếu 2 nhóm sử dụng rượu bia mức an toàn và nguy cơ thấp; chiến lược can thiệp đã đưa ra những lời khuyên đơn giản và tuyên truyền thông tin giáo dục về tác hại của rượu bia sẽ dễ thực hiện hơn, phù hợp hơn đối với người thực hiện can thiệp là người cao tuổi.
Đối với vòng đánh giá lần 2, các hội viên y tế công cộng người cao tuổi đã hướng dẫn trực tiếp, sử dụng các tài liệu truyền thông là tờ rơi, sổ tay hướng dẫn, tập trung vào nhóm sử dụng rượu bia an toàn và nguy cơ thấp, do tài liệu truyền thông ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ vì vậy đã thu hút được những kết quả khá tốt đối với việc giảm mức độ sử dụng rượu bia, đặc biệt là nhóm sử dụng rượu bia chưa nguy cơ.
Về lý do sử dụng hội viên y tế công cộng người cao tuổi, việc triển khai các hoạt động can thiệp nâng cao sức khỏe tại cộng đồng sẽ đem lại lợi ích về sức khỏe cho người cao tuổi khi tham gia trực tiếp vào các hoạt động cộng đồng. Đồng thời hội viên hội y tế công cộng tham gia vào các hoạt động nâng cao sức khỏe tại cộng đồng sẽ tăng tính bền vững của chương trình can thiệp.
Tác giả nghiên cứu đã có khuyến nghị cần kết hợp tổ chức các chiến dịch truyền thông như truyền thông theo nhóm về giảm sử dụng rượu bia địa phương để nâng cao hơn nhận thức về việc hạn chế sử dụng rượu bia của người dân trong cộng đồng và hiệu quả của chương trình can thiệp. Đồng thời cần thử nghiệm chương trình can thiệp giảm thiểu mức độ sử dụng rượu bia dựa vào mạng lưới hội viên y tế công cộng người cao tuổi ở các địa bàn khác.
Chúng ta biết rằng, rượu bia là một trong những sản phẩm đồ uống được con người sử dụng nhiều và từ lâu trên thế giới. Lạm dụng rượu bia không chỉ gây ra những tổn hại về sức khỏe con người, phí tổn về kinh tế cho các gia đình có người lạm dụng rượu bia mà còn ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội; tai nạn giao thông. Tổng điều tra dân số năm 2009, người cao tuổi Việt Nam chiếm đến 9,0%; khoảng 7,7 triệu người, trong đó người cao tuổi trên 65 tuổi chiếm tới hơn 75%. Người cao tuổi có thể là một lực lượng tiềm năng để tham gia một cách hiệu quả vào công việc phát triển, chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ cộng đồng. Từ năm 2010, Hội Y tế Công cộng Việt Nam đã đề xuất ý tưởng xây dựng một mạng lưới người cao tuổi tình nguyện triển khai hoạt động giảm mức độ sử dụng rượu bia.
Mai Trang