[Đăng ngày: 21/08/2017]
U tủy là một bệnh hiếm gặp, chiếm tỷ lệ 2,06% so với các khối u trong cơ thể nói chung; chiếm tỷ lệ 15% - 20% các u thuộc hệ thống thần kinh trung ương. U tủy ít gặp hơn so u não 4-6 lần đối với người lớn. 

U tủy cổ chỉ chiếm tỷ lệ 16% u tủy sống, nhưng nếu xuất hiện sẽ có tác động rất nặng nề, nhất là u vùng tủy cổ cao. Khối u chèn ép gây ra các hội chứng tiểu não, liệt, rối loạn các trung khu hô hấp, tuần hoàn. U tủy ở vùng cổ có thể phát triển một thời gian dài không có biểu hiện các triệu chứng điển hình; với đặc điểm giải phẫu chức năng đặc biệt như vậy nên việc phẫu thuật lấy bỏ u tủy khó khăn, để lại nhiều di chứng nặng nề cho người bệnh. Công tác chẩn đoán sớm, điều trị đúng, kịp thời u tủy sống vùng cổ là vấn đề thời sự. Hiện nay với sự tiến bộ của chẩn đoán hình ảnh như chụp cộng hưởng từ, chụp cắt lớp vi tính đa dãy (MSCT), chụp mạch máu tủy số hóa xóa nền; ứng dụng các phương pháp phẫu thuật can thiệp tối thiểu, kính vi phẫu thuật, dao mổ siêu âm, laser, xạ phẫu gamma knife; Cyber knife, hóa trị liệu đã giúp cho công tác khám chẩn đoán, điều trị u tủy vùng cổ có những thành tựu mới. 

Từ tháng 01/2011 đến tháng 01/2014 nhóm tác giả nghiên cứu Trương Như Hiển cùng cộng sự Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình và Bệnh viện 103 tiến hành nghiên cứu báo cáo đề tài “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả vi phẫu thuật u tủy vùng cổ”. Theo tác giả nghiên cứu, có 58 bệnh nhân u tủy sống vùng cổ được chẩn đoán, vi phẫu thuật, có kết quả mô bệnh học tại khoa phẫu thuật Thần kinh Bệnh viện Quân Y 103 và Bệnh viện Việt Đức.

BS. Trương Như Hiển phân tích, về triệu chứng lâm sàng, theo thang điểm Mc Cormick gồm: (1) Bệnh nhân không có triệu chứng, không tổn thương thần kinh; (2) Thiếu hụt thần kinh không ảnh hưởng chức năng của chi, không phản xạ bất thường, dáng đi bình thường; (3) Thiếu hụt thần kinh có ảnh hưởng chức năng của chi liên quan, đi lại khó khăn nhưng độc lập; (4) Thiếu hụt thần kinh nặng, cần có sự trợ giúp khi đi lại; (5) Nằm liệt giường hoặc ngồi xe lăn. Diễn biến đau kiểu rễ, có 55,2% đối tượng nghiên cứu có biểu hiện đau kiểu rễ lan dọc chi trên – đau theo dải rễ thần kinh chi phối với tính chất đau thắt; đau trong sâu, thời gian đau lâu và đau theo sự phát triển của bệnh. Bệnh nhân đau kiểu rễ vì khối u xuất phát trực tiếp và chèn ép vào rễ. 

Thường các u rễ thần kinh, phần lớn biểu hiện dị cảm và giảm cảm giác theo rễ, còn các u ngoài tủy có rối loạn cảm giác sớm và rõ hơn. Trong nghiên cứu, có 52 bệnh nhân (89,6%) khi đến viện đã ở giai đoạn có rối loạn vận động, trong đó có 10 bệnh nhân ở giai đoạn liệt không hoàn toàn, còn lại là ở giai đoạn liệt hoàn toàn. Diễn tiến của các bệnh nhân là có khoảng thời gian liệt tiến triển từ từ tăng dần; đó là do u hầu hết phát triển chậm, mặt khác do ống sống đoạn tủy cổ rộng hơn so với tủy, nên chỉ khi có sự mất bù trừ của ống sống, thiếu máu nuôi dưỡng và thoái hóa các bó tủy cũng như rễ thần kinh mới có biểu hiện liệt nặng. 

Tác giả nghiên cứu cho biết, trên hình ảnh cộng hưởng từ, các khối u tủy cổ có cường độ tín hiệu tăng trên chuỗi xung T2W (82,8%). Sau tiêm thuốc đối quang đa số khối u thấy có ranh giới rõ trên phim chụp cộng hưởng từ. 

Về phương pháp kỹ thuật, cùng với mục đích cắt bỏ khối u và giải phóng chèn ép tủy sống, điều quan trọng là phải đảm bảo các mạch máu, dây thần kinh và phòng ngừa sự suy giảm chức năng thần kinh càng nhiều càng tốt. Để bộc lộ khối u, tác giả nghiên cứu chọn đường mổ từ phía sau khớp cổ chẩm và toàn bộ tủy sống cổ; có 04 trường hợp phối hợp đường mổ phía trước. Đường mổ từ phía sau là đường mổ thường quy, an toàn. Cắt cung sau hoàn toàn hay chỉ cắt một bên bản sống tùy yêu cầu phẫu thuật. Gần đây phương pháp mổ có tạo hình cung sau được ủng hộ vì ổn định được cột sống sau mổ. Về kích thước, vị trí, tính chất khối u; đối với các u ngoài tủy cổ có nhiều xu hướng phát triển thành các u hình quả tạ đôi, nhất là các u DTK vùng tủy cổ cao. Để phẫu thuật lấy bỏ hết các u hình quả tạ đôi, phẫu thuật viên phải xem xét: (1) Với u vỏ bao thần kinh, có nên cắt các rễ thần kinh không; (2) Làm thế nào để các khuyết màng cứng được giải quyết sau cắt bỏ khối u; (3) Làm thế nào để bảo vệ động mạch đốt sống trong phẫu thuật; (4) Làm thế nào để phẫu thuật cột sống cổ được ổn định. Trường hợp đối với các u trong tủy, phẫu thuật này là một thách thức do gặp nhiều khó khăn khi cắt bỏ u triệt để và có nguy cơ cao gây tổn thương tủy sống trong mổ. Trong hầu hết trường hợp tủy sống được mổ ở rãnh giữa sau, khi mổ u tủy sống phía sau phẫu thuật nên nhìn thấy rõ ranh giới khối u qua kính vi phẫu, các mạch máu vùng này cũng được nhìn thấy chính xác hơn. BS. Hiển lưu ý, khi phẫu thuật những khối u trong tủy sống không nên sử dụng đốt điện lưỡng cực để cầm máu tránh gây tổn thương mô tủy, nếu quá cần thiết thì sử dụng nhiệt độ rất thấp. 

Lâm Quyên
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 106

Số lượt truy cập: 9359188

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang