[Đăng ngày: 20/08/2017]
Theo GS. Nguyễn Chấn Hùng- Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, ung thư vòm họng hoặc vòm hầu, họng trên là loại ung thư đứng hàng thứ 5 trong các bệnh ung thư thường gặp ở nam giới; đối với nữ giới tỷ lệ này thấp hơn. Tuổi thường gặp ung thư vòm họng từ 30-50. Vòm họng là phần cao nhất của họng nằm sau hốc mũi. Ung thư mọc từ các tế bào lót vòm họng, là loại ung thư khó phát hiện sớm vì vị trí ung thư hóc hiểm, triệu chứng bệnh thì lập lờ.

Tác giả Phạm Thị Bích Đào- Trường Đại học Y Hà Nội- cho biết chẩn đoán giai đoạn bệnh ung thư vòm họng dựa theo phân loại AJCC7 2010. Giải phẫu bệnh ung thư vòm họng 75-85% là loại biểu mô không biệt hóa, loại ung thư biểu mô biệt hóa (Carcinoma spinocellulaire) chiếm 10-15%. Ung thư liên kết (sarcoma) hiếm gặp chỉ khoảng 5%. BS. Đào nhận xét ung thư vòm họng là bệnh đáp ứng tốt với điều trị nhưng điều trị phức tạp đòi hỏi điều trị đặc thù đa mô thức. Đối với ung thư ở giai đoạn 1 (T1NOMO), giai đoạn 2 (T2NOMO) phương pháp điều trị xạ trị đơn thuần. Ung thư giai đoạn 2 (T1, 2N1, MO) cần cân nhắc hóa trị- xạ trị đồng thời. Ung thư ở giai đoạn 3, giai đoạn 4 chỉ định điều trị hóa trị, xạ trị đồng thời và xem xét lựa chọn hóa chất bổ trợ sau hóa trị, xạ trị đồng thời. Tất cả các phương pháp điều trị, bên cạnh việc phụ thuộc vào giai đoạn khối u còn phụ thuộc rất lớn vào tình trạng dinh dưỡng của người bệnh. Từ năm 2011-2015, nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Thị Bích Đào cùng cộng sự Trường Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương tiến hành nghiên cứu, báo cáo đề tài đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ở từng giai đoạn của khối u để các bác sĩ lâm sàng có thể định hướng cách chọn lựa phương pháp điều trị phù hợp cho từng người bệnh.

Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân được chẩn đoán ung thư vòm họng, xây dựng bệnh án mẫu và thu thập số liệu theo các thông số nghiên cứu, mức độ sụt giảm trọng lượng cơ thể; chỉ số BMI, lượng protein và calo đưa vào cơ thể bệnh nhân; chứng chán ăn, lượng thức ăn đưa vào, nuốt khó, nuốt đau, nôn, albumin trung bình.

Theo phân tích của tác giả Phạm Thị Bích Đào, có 120 bệnh nhân đủ điều kiện và tự nguyện tham gia nghiên cứu, tỷ lệ đối tượng nghiên cứu nam là 82,3%; nữ là 17,7%. Tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 47,2; số bệnh nhân sụt giảm trên 10% trọng lượng cơ thể trong một tháng chiếm gần 56%; giảm 5-10% trọng lượng cơ thể trong 1 tháng là 32,5%; giảm dưới 5% trọng lượng cơ thể trong 1 tháng là 11,7%. Tác giả nghiên cứu lưu ý tình trạng dinh dưỡng bệnh nhân trước điều trị có mối liên quan mật thiết với chất lượng sống của bệnh nhân sau điều trị cũng như giảm số ngày phải nằm viện. Trong nghiên cứu, những bệnh nhân có chỉ định điều trị hóa trị, xạ trị đồng thời cho thấy diễn biến khả quan sau điều trị ở nhóm có giảm dưới 5% trọng lượng cơ thể trong 1 tháng. Với nhóm sụt giảm trên 10% trọng lượng cơ thể trong 1 tháng, việc điều trị đồng thời phải cân nhắc, vì số lượng bệnh nhân này có tới 43% tử vong ngay trong thời gian điều trị, thời gian nằm viện kéo dài trên 4 tuần, chất lượng sống sau điều trị không ổn định.

Đối với lượng protein đưa vào cơ thể đối tượng nghiên cứu, 78,7% dưới 1,5 g/kg; 21,1% đối với nhóm trên 1,5g/kg; lượng calo đưa vào cơ thể trên 35 kcal/kg là 12,2%; 87,8% dưới 35 kcal/kg. Tác giả nghiên cứu cho biết, bệnh nhân ung thư vòm họng thường có tình trạng suy dinh dưỡng nặng do chứng chán ăn là 13,3%; nuốt khó 74,2%; nuốt đau 80,8%; nôn 42,5%. Khi bệnh nhân ở giai đoạn 2 trở đi lượng calo và protein đưa vào cơ thể có giá trị quyết định phương pháp điều trị hơn là dựa vào chỉ số BMI. Tác giả nghiên cứu cho biết, tình trạng suy sinh dưỡng gặp ở mọi giai đoạn của ung thư vòm họng; ở giai đoạn I,II,III còn tương đối ổn định. BMI trung bình giai đoạn I-II là 22,3; abumin trung bình ở giai đoạn I,II là 38,5; protein giai đoạn I-II là 1,4g/kg. Đây là giai đoạn cơ thể người bệnh có thể điều trị được theo phác đồ đa mô thức; ở giai đoạn muộn hơn IV, IVB và IVC 87% đối tượng nghiên cứu ở tình trạng suy dinh dưỡng nặng, việc đưa ra phương pháp điều trị đa mô thức là không thể thực hiện được. Đối với những trường hợp này cần có chế độ dinh dưỡng đặc biệt trước khi bắt đầu điều trị thật sự. Tác giả nghiên cứu kết luận,đối với tình trạng suy dinh dưỡng nặng ở bệnh nhân, bác sĩ không nên điều trị phối hợp phương pháp đa mô thức; nên cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư vòm họng trước điều trị để tăng đáp ứng điều trị cũng như tỷ lệ sống cho người bệnh.

Theo GS.Nguyễn Chấn Hùng, vi rút EBV (Epstein Barr Virus) có thể nhiễm vào cơ thể, tồn tại lâu mà không gây xáo trộn gì. Thói quen ăn cá muối khô từ tuổi nhỏ làm kích hoạt vi rút gây ung thư vòm họng. Cá muối khô chứa chất nitrosamine. Các tác nhân khác kích hoạt vi rút còn có chất benzopyren, khói công nghiệp, hóa chất bốc hơi, viêm vòm họng mạn tính, thuốc lá, rượu, tiếp xúc với formol, bụi gỗ; yếu tố chủng tộc và gia đình. Bệnh nhân sau điều trị xạ trị có chứng khô miệng, viêm họng gây khó nói, khó nuốt, khó ăn. Cần xúc miệng với nước muối ấm sau bữa ăn, giữ miệng ẩm với nước và kẹo ngậm không đường, lựa thức ăn mềm ướt, thức ăn có sốt bơ hoặc sữa. Tránh những món ăn khô, thức ăn thức uống cay, chua, kích thích miệng, có caphein và cồn. Có thể sử dụng nước bọt nhân tạo giúp giảm khô miệng.

Hữu Cao
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 110

Số lượt truy cập: 9359190

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang