[Đăng ngày: 17/08/2017]
Lạc nội mạc tử cung được định nghĩa là sự hiện diện của mô nội mạc tử cung lạc chỗ bên ngoài lớp niêm mạc lòng tử cung.

Lạc nội mạc tử cung là một bệnh lý khá phổ biến ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Theo BS.Trịnh Tú Tâm- Bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội- lạc nội mạc tử cung ở ruột thường hiếm gặp; kết quả nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ lạc nội mạc tử cung ở ruột từ 3,8% đến 37%. Tần số cao nhất của lạc nội mạc tử cung ở ruột đứng đầu là trực tràng, kế tiếp là đại tràng sigma; hồi tràng, ruột thừa và manh tràng. Chẩn đoán được lạc nội mạc tử cung thường chỉ xác định được sau mổ, đây là một thách thức đối với cả bác sĩ lâm sàng và bác sĩ cận lâm sàng. Tháng 6/2015; tác giả Trịnh Tú Tâm cùng cộng sự báo cáo trường hợp bệnh nhân lạc nội mạc tử cung ở cơ đại tràng sigma; trường hợp này được chẩn đoán trước mổ là hướng tới u đại tràng sigma.

Theo BS. Trịnh Tú Tâm, đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân nữ, 47 tuổi, tiền sử có cắt tử cung bán phần do u xơ năm 2013; lúc vào viện khám có thể trạng trung bình, không có biểu hiện thiếu máu; bụng mềm, không nôn, không sốt. Kết quả các xét nghiệm công thức máu, sinh hóa máu, nước tiểu, chất chỉ điểm ung thư AFP, CEA, CA 19-9 đều trong mức giới hạn bình thường. Kết quả siêu âm ổ bụng thấy polyp túi mật, nang thận trái. Kết quả nội soi đại tràng và chụp cắt lớp vi tính 128 dãy thấy có chít hẹp lòng đoạn cuối đại tràng xuống và đầu đại tràng sigma chưa phân biệt được u hay viêm. Bệnh nhân được chẩn đoán trước phẫu thuật là chít hẹp đại tràng sigma do u cắt bán phần tử cung. Phương pháp phẫu thuật cắt đoạn đại tràng trái, nạo vét hạch, nối tận- tận đại tràng góc lách và đại tràng sigma. Sau mổ, kết quả giải phẫu bệnh cho thấy bệnh phẩm hạch là tổ chức xơ mỡ lành tính, bệnh phẩm đại tràng thấy lạc nội mạc tử cung trong lớp cơ đại tràng.

BS.Trịnh Tú Tâm báo cáo theo các chuyên gia trên thế giới, lạc nội mạc tử cung gặp nhiều ở phụ nữ tuổi hoạt động sinh dục; hay gặp sau tuổi dậy thì 15 năm hoặc sau 5 năm có thai cuối kỳ; tuổi 30-40 tuổi thường gặp nhất; có nhiều nghiên cứu thấy hơn 50% bệnh ở nhóm tuổi phụ nữ 20-40 tuổi. Đối với phụ nữ trẻ bệnh hiếm gặp, thường ở những trẻ gái có dị dạng sinh dục, bất thường eo tử cung, tử cung đôi.

Cơ chế bệnh sinh của lạc nội mạc tử cung chưa thống nhất, có nhiều giả thuyết. Có tác giả cho rằng bệnh hay gặp ở phụ nữ có tiền sử phẫu thuật phụ khoa và sản khoa, nạo, cắt tử cung, bảo tồn buồng trứng, mổ lấy thai, cắt khâu tầng sinh môn…Tác giả nghiên cứu cho biết, khó xác định một tổn thương lạc nội mạc tử cung ở ruột gây ra triệu chứng đau bụng và vùng chậu. Nói chung, các tổn thương lạc nội mạc tử cung nhỏ ở dưới lớp thanh mạc không gây ra triệu chứng. Các tổn thương lớn xâm nhập vào lớp cơ ruột gây ra một loạt các triệu chứng bao gồm đại tiện khó, táo bón, tiêu chảy, đầy hơi, đau khi đại tiện, chảy máu theo phân có chu kỳ. Các chuyên gia cho rằng các ổ lạc nội mạc tử cung lớn có thể chứa xơ hóa sâu rộng và làm dày thành ruột, dẫn đến hẹp lòng ruột và cản trở lưu thông. Các tổn thương ở ruột xâm nhập và phá vỡ các đám rối thần kinh ruột, tổn thương tế bào kẽ Cajal, giảm mật độ của các sợi thần kinh giao cảm của ruột và do đó gây ra sự thay đổi sinh lý trong ruột.

BS.Tâm cho biết, mặc dù không có tiêu chuẩn vàng được chấp nhận rộng rãi để chẩn đoán lạc nội mạc tử cung ở ruột, tuy nhiên chụp cộng hưởng từ là kỹ thuật bình thường được sử dụng nhất. Kết quả nhiều nghiên cứu cho thấy chụp cộng hưởng từ có độ nhạy 88%; độ đặc hiệu 98%; giá trị dự đoán dương tính 95%; giá trị dự đoán âm tính 95%; độ chính xác 95% trong chẩn đoán bệnh lạc nội mạc tử cung ở ruột. Tuy nhiên, BS.Tâm lưu ý có một số trường hợp việc chẩn đoán lạc nội mạc tử cung ở ruột của cộng hưởng từ khó khăn vì các ổ có thành phần xuất huyết nhỏ, có cường độ tín hiệu rất gần với các cấu trúc cơ xung quanh. Vì vậy, bác sĩ đề xuất bơm gel siêu âm trong âm đạo và trực tràng khi chụp cộng hưởng từ để tạo điều kiện cho việc xác định các tổn thương đường ruột.

Một số nghiên cứu cũng chứng minh siêu âm qua đường âm đạo không chẩn đoán chính xác chỉ có sự hiện diện của lạc nội mạc tử cung trực tràng âm đạo, nhưng xét nghiệm này giúp ước tính chiều sâu của sự xâm nhập của các nốt ở thành ruột. Kết quả siêu âm thường phụ thuộc nhiều vào kết quả của bác sĩ thực hiện; do vậy việc đưa nước vào trực tràng trong siêu âm qua đường âm đạo có thể tạo điều kiện thuận lợi xác định các tổn thương lạc nội mạc tử cung ở ruột, đánh giá các đặc điểm của nốt sần về kích thước, số lượng, độ sâu xâm nhập vào thành ruột, mức độ hẹp của lòng ruột.

Đối với chụp cắt lớp vi tính đa dãy cho phép đánh giá hình ảnh lạc nội mạc tử cung và những đặc điểm của tổn thương, đặc biệt độ sâu của sự xâm nhập của nội mạc tử cung trong thành ruột.

Trong trường hợp nghiên cứu, BS.Tâm phân tích kết quả giải phẫu bệnh lý thấy hình ảnh lạc nội mạc tử cung nằm hoàn toàn trong lớp cơ, do đó khi sinh thiết qua nội soi, đầu kim không tới vị trí tổn thương nên kết quả giải phẫu bệnh trước mổ không chính xác. Soi ổ bụng là xét nghiệm duy nhất kiểm định chẩn đoán, tiên lượng, điều trị; tuy nhiên xét nghiệm này ưu thế trong chẩn đoán bệnh ở thể nông. 

Chiến lược điều trị của lạc nội mạc tử cung ở ruột phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng, mức độ của bệnh về lâm sàng và hình ảnh, bệnh nhân có nhu càu sinh con và khả năng dung nạp liệu pháp hormon. Điều trị nội tiết có thể áp dụng cho phụ nữ bị hẹp của lòng ruột dưới 60%; đối với những bệnh nhân muốn tránh phẫu thuật và không muốn sinh con tiếp, BS. Tâm cho biết liệu pháp nội tiết tố có thể không ngăn chặn sự tiến triển của lạc nội mạc tử cung ở ruột, do đó bệnh nhân cần được điều trị lâu dài và được theo dõi định kỳ.

Trần Mai
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 105

Số lượt truy cập: 9359187

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang