
Từ tháng 5/2012 đến tháng 2/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Lưu Quang Thùy cùng cộng sự Trung tâm gây mê hồi sức – Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức nghiên cứu báo cáo đề tài “Mối tương quan của chỉ số mạch đập trên siêu âm Doppler xuyên sọ và áp lực nội sọ ở bệnh nhân chấn thương sọ não nặng”.
Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang; tiêu chuẩn chọn bệnh nhân là từ 16 tuổi trở lên bị CTSN nặng (Glasgow < 8 điểm sau khi đã hồi sức), có CT-Scan bất thường hoặc CT-Scan bình thường nhưng có > một tiêu chuẩn: lớn hơn 40 tuổi, duỗi cứng chi. Được đặt ICP và làm TCD. Được đặt nội khí quản, thở máy thông khí hợp lý.
Bác sĩ Lưu Quang Thùy phân tích báo cáo, kết quả nghiên cứu có tỷ lệ nam nhiều hơn nữ (81,72% với 18,28%). Trong hầu hết các nghiên cứu thấy rằng tỷ lệ nam chiếm tỷ lệ cao hơn nữ, điều này có thể do đặc thù công việc đảm nhận trong xã hội, tham gia giao thông nhiều, lối sống không lành mạnh (uống rượu, bia…) phóng xe tốc độ cao nên tỷ lệ nam giới CTSN cao hơn nữ giới.
Thời gian đến viện sau 3 giờ chiếm tỷ lệ cao nhất (80,65%), đến trước 1 giờ chiếm tỷ lệ thấp (2,15%). Điều này cho thấy công tác cấp cứu ban đầu chưa chuyên nghiệp, bệnh nhân chấn thương sọ não nặng tập trung ở vùng nông thôn xa bệnh viện, phải mất thời gian cấp cứu ban đầu và chuyển tuyến cao hơn. Hai bệnh nhân nhập viện trước 1 giờ do tai nạn xảy ra ngay cạnh bệnh viện được người đi đường đưa ngay vào phòng cấp cứu. Thời gian cấp cứu sau chấn thương chiếm vị trí rất quan trọng (gọi là thời gian vàng), nó ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình điều trị và tiên lượng của người bệnh. Kết quả nghiên cứu của bác sĩ Thùy khẳng định thời gian là một yếu tố quan trọng trong điều trị và tiên lượng bệnh, cần thiết phải xây dựng một phác đồ chuẩn thống nhất từ trung ương đến địa phương nhằm chuyên nghiệp hóa công tác cấp cứu ban đầu và thời gian vận chuyển bệnh nhân.

Về tổn thương trên CT-Scan sọ não, bệnh nhân chảy máu dưới nhện chiếm tỷ lệ cao nhất 89,3%, tiếp đến là nhóm máu tụ trong não chiếm 55,9%. Bệnh nhân CTSN nặng thường đi kèm theo nhiều tổn thương phối hợp, đặc biệt những bệnh nhân có kèm theo chảy máu não thất, xóa bể đáy thì tiên lượng rất nặng, điều trị khó khăn và để lại di chứng. Nhóm bệnh nhân máu tụ ngoài màng cứng đơn thuần được coi là có tiên lượng tốt nếu được chẩn đoán và xử trí kịp thời, tỷ lệ của nhóm này trong nghiên cứu là 15,05%, thấp hơn nghiên cứu của Nguyễn Tiến Triển (28,4%) và Phạm Xuân Hiển (22,6%).
Áp lực nội sọ giảm dần theo thời gian ngày thứ nhất đến ngày thứ 10 (từ 24,69 + 16,86 xuống 12,93 + 3,74) tương ứng với mức giảm của chỉ số mạch đập (từ 1,53 + 1,01 xuống 0,70 + 0,32). Ngày thứ nhất giá trị của áp lực nội sọ và chỉ số mạch đập tương quan rất chặt chẽ với r = 0,78, ngày thứ 5 hệ số r = 0,77, tuy nhiên đến ngày thứ 10 hệ số r = 0,35. Càng những ngày sau tương quan giữa áp lực nội sọ và chỉ số mạch đập càng giảm có thể do tính xác của áp lực nội sọ những ngày sau không cao, đầu cảm ứng của catheter áp lực nội sọ không được chuẩn như lúc đầu, những ngày sau áp lực nội sọ giảm dần do được điều trị theo đích chấn thương sọ não nặng nên áp lực nội sọ ở mức cho phép.
Bác sĩ Thùy có kết luận nghiên cứu, có sự tương quan tuyến tính cao giữa chỉ số mạch đập trên siêu âm Doppler xuyên sọ và áp lực nội sọ đo được qua catheter ở ngày thứ nhất và ngày thứ 5 sau chấn thương. Sự tương quan này giảm theo đến ngày thứ 10 thì tương quan thấp. Ở mức áp lực nội sọ cao trên 20mmHg có sự tương quan chặt chẽ giữa chỉ số mạch đập và áp lực nội sọ.
Anh Huy