
Từ tháng 4/2011 đến tháng 6/2012, ThS.BS Trần Thị Ngọc Hiếu- trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa- cùng các cộng sự đã nghiên cứu trên 67 bệnh nhân có khối choán chỗ trung thất để nghiên cứu đặc điểm hình ảnh X-quang phổi kỹ thuật số và chụp cắt lớp vi tính. Tất cả các bệnh nhân được chụp X-quang phổi thẳng kỹ thuật số và chụp cắt lớp vi tính ngực có tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch. Kết quả nghiên cứu cho thấy, không có trường hợp nào có hình ảnh nghi ngờ khối choán chỗ trung thất trên X quang mà kết quả chụp cắt lớp vi tính bình thường. Có 24 trường hợp hình ảnh X- quang phổi hoàn toàn bình thường nhưng kết quả chụp cắt lớp vi tính lại thấty hình ảnh khối choán chỗ trung thất.
Đối với độ tuổi, tuổi trung bình của các bệnh nhân tham gia nghiên cứu là 54 tuổi (cao nhất 90 tuổi, thấp nhất 8 tuổi). Nam giới mắc bệnh hơn 65% cao hơn so với nữ giới. Theo ThS.Hiếu hầu hết người bệnh đến viện vào giai đoạn muộn, trong khi việc phát hiện bệnh sớm và điều trị rất có ý nghĩa quan trọng để giảm gánh nặng bệnh tật cho người bệnh và gia đình.
Về lý do vào viện của khối choán chỗ trung thất trên nhóm bệnh nhân, nghiên cứu cho thấy đau ngực chiếm tỷ lệ 27%; ho 22% và khó thở 22,4%. Có 12 trường hợp qua việc kiểm tra sức khỏe, chụp X-quang phổi tình cờ phát hiện khối choán chỗ trung thất. Nhóm nghiên cứu đã chỉ ra một số hạn chế của chụp cắt lớp vi tính như khó có thể phân biệt giữa tổn thương nằm cạnh hay đã xâm lấn vào các cấu trúc trung thất, giữa khối u trung thất xâm lấn vào nhu mô phổi hay chỉ là xẹp phổi do khối choán chỗ trung thất chèn ép phế quản và giữa hạch trung thất do di căn hay phì đại hạch trung thất lành tính, chụp cắt lớp vi tính chưa thể khẳng định chắc chắn khối choán chỗ trung thất, trên thực tế cần phải phối hợp nhiều phương pháp, tuy nhiên chụp cắt lớp vi tính có tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch có thể xem là tiêu chuẩn vàng trong đánh giá khối choán chỗ trung thất. Chụp cắt lớp vi tính tốt hơn X- quang do tránh sự chồng hình, hiển thị hình ảnh cắt ngang, độ tương phản hình ảnh cao, cho thông tin về mạch máu và đặc tính tổn thương khi dùng chất cản quang. Cụ thể trong nghiên cứu, X-quang phổi phát hiện được 43/67 trường hợp khối choán chỗ trung thất, chiếm tỷ lệ 64,2%; chụp cắt lớp vi tính phát hiện được thêm 35,8% trường hợp có khối choán chỗ trung thất so với X-quang phổi. Chụp cắt lớp vi tính phát hiện được nhiều trường hợp khối choán chỗ nằm ở hai hay cả ba ngăn trung thất. Có sự phù hợp mức độ vừa phải giữa vị trí khối choán chỗ trung thất trên X-quang và chụp cắt lớp vi tính với chỉ số Kappa=0,448.
Việc phân tích số lượng khối choán chỗ trung thất có giá trị trong chẩn đoán, nếu khối không phải là một khối đơn độc thì sẽ giúp ta loại trừ một số nguyên nhân như u tuyến ức, u quái hay bất thường tuyến giáp. Trong nghiên cứu này, có sự phù hợp mức độ vừa phải giữa số lượng khối choán chỗ trung thất trên X-quang và chụp cắt lớp vi tính với chỉ số Kappa=0,448.
Chụp cắt lớp vi tính phát hiện thêm nhiều đặc điểm khối choán chỗ mà không thấy được trên X-quang phổi như mỡ, hoại tử, nang. Đối với nốt vôi hóa thấy được cả trên chụp cắt lớp vi tính và X-quang phổi thì tỷ lệ thấy được trên chụp cắt lớp vi tính nhiều hơn trên X-quang phổi. Kích thước của tổn thương trong nghiên cứu khá lớn, điều đó có nghĩa là đa số bệnh nhân đều được phát hiện và đến bệnh viện khám, điều trị tương đối trễ khi kích thước khối đã lớn và triệu chứng lâm sàng đã rõ, ảnh hưởng rất lớn đến kết quả điều trị của bệnh nhân. Trong số trường hợp có khối choán chỗ trung thất có ngấm thuốc cản quang là 36/67 chiếm tỷ lệ cao 53,7%; trong đó khối ngấm thuốc cản quang đồng nhất chiếm tỷ lệ 47,2%. Trong 36 trường hợp khối choán chỗ trung thất ngấm thuốc cản quang trong nghiên cứu, mức độ ngấm nhiều chiếm tỷ lệ cao 69,4%, ngấm ít chiếm tỷ lệ 30,6%.
Nhóm nghiên cứu cho rằng, xác định khối choán chỗ trung thất có ngấm thuốc cản quang hay không ngấm và ngấm như thế nào có giá trị trong chẩn đoán phân biệt khối choán chỗ có nguồn gốc mạch máu hay là các u mạch. Ngấm thuốc cản quang đáng kể, có thể giúp loại trừ các trường hợp di căn hay ung thư hạch.
Kết luận nghiên cứu cho thấy, ThS.BS Trần Thị Ngọc Hiếu cho rằng chụp cắt lớp vi tính là tiêu chuẩn quan trọng trong chẩn đoán hình ảnh khối choán chỗ trung thất. Tuy nhiên, không thể dùng kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính để sàng lọc bệnh nhân bị khối choán chỗ trung thất vì không phải tất cả mọi bệnh nhân đều có điều kiện để chụp chụp cắt lớp vi tính, chưa kể đến sự nhiễm tia xạ không cần thiết gây hại đến sức khỏe bệnh nhân. Thực tế hiện nay đang dùng kỹ thuật chụp X-quang phổi để sàng lọc các bệnh về lồng ngực, do đó việc hiểu chính xác về giá trị của X- quang phổi, phát hiện những dấu hiệu tinh tế của bệnh lý trung thất từ đó có được chẩn đoán đúng khối choán chỗ trung thất và định hướng các bước xử lý tiếp theo, công việc này sẽ giúp ích rất nhiều cho bệnh nhân và tiết kiệm chi phí cho xã hội.
Nghi Anh