[Đăng ngày: 27/06/2015]
Một nghiên cứu của bác sỹ Nguyễn Hồng Hạnh – Trường Cao đằng Y tế Quảng Ninh về “Đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 chẩn đoán lần đầu tại Quảng Ninh năm 2014”  cho thấy có 34% bệnh nhân đã có biến chứng vi mạch do liên quan đến tình trạng kháng Insulin.
Nghiên cứu được thực hiện trên 159 bệnh nhân, tuổi trung bình 55, các bệnh nhân được chẩn đoán đái tháo đường týp 2 theo tiêu chuẩn của WHO, bệnh nhân chưa sử dụng bất kỳ một loại thuốc điều trị đái tháo đường nào.
Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số bệnh nhân có tình trạng thừa cân, béo phì, tăng đường máu và giảm tiết insulin kèm theo một số các biến chứng khác, đặc biệt là biến chứng vi mạch do liên quan đến tình trạng kháng insulin. Tỷ lệ bệnh mạch máu ngoại biên chiếm 6,1%, tỷ lệ tăng huyết áp là 30,1% (48/159 bệnh nhân); biến chứng nhiễm khuẩn chiếm 15,7%; 5,03% bị biến chứng bàn chân. Có 54 bệnh nhân biến chứng vi mạch, trong đó 12,6% là biến chứng võng mạc, 18,9% là biến chứng thần kinh, 2,5% biến chứng võng mạc - thần kinh. Không có bệnh nhân biến chứng thận.
Theo tác giả nghiên cứu, tình trạng kháng insulin bị ảnh hưởng bởi yếu tố gen và yếu tố môi trường (như béo phì), những bệnh nhân có kháng insulin thường có những đặc điểm như béo tạng, rối loạn chuyển hóa lipid, tăng huyết áp, có biểu hiện xơ vữa động mạch sớm. Những bệnh nhân này được gọi là có hội chứng chuyển hóa hoặc hội chứng kháng insulin. Ban đầu khi xuất hiện kháng insulin, cơ thể bù trừ bằng cách tăng tiết insulin ở tụy, để duy trì mức glucose bình thường. Tuy nhiên trong tiến trình của bệnh, do rối loạn tế bào beta có đặc tính di truyền nên việc sản xuất insulin giảm dần dẫn đến tiến triển tăng glucose máu. Khi giảm tiết insulin thì sản xuất đường ở gan tăng dần do tác dụng của insulin giảm. Ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 sự tăng sản xuất đường ở gan biểu diễn bằng đường máu đói do giảm tiết insulin và kháng insulin, chính vì vậy tại thời điểm phát hiện bệnh các bệnh nhân đã xuất hiện các biến chứng tăng huyết áp và các biến chứng vi mạch.
Chúng ta biết rằng đái tháo đường là bệnh không lây nhiễm được WHO quan tâm hàng đầu trong chiến lược chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Đái tháo đường là bệnh mang tính xã hội cao ở nhiều quốc gia bởi tốc độ phát triển nhanh chóng, mức độ nguy hại đến sức khỏe. Đái tháo đường còn trở thành lực cản của sự phát triển, gánh nặng cho toàn xã hội khi mà mỗi năm thế giới phải chi số tiền khổng lồ từ 232 tỷ đến 430 tỷ USD cho việc phòng chống và điều trị. Đây là một trong ba căn bệnh có tốc độ phát triển nhanh nhất và một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các nước đang phát triển.
Việt Nam không xếp vào 10 nước có tỷ lệ mắc đái tháo đường cao nhưng lại là quốc gia có tốc độ phát triển bệnh nhanh. Một nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết Trung ương vào cuối tháng 10 -2008 cho thấy, tỷ lệ mắc đái tháo đường ở Việt Nam tăng nhanh từ 2,7% (năm 2001) lên 5% (năm 2008), trong đó có tới 65% người bệnh không biết mình mắc bệnh.
Đối với việc kiểm soát đường huyết, các đích kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường phản ánh các bằng chứng từ nhiều thử nghiệm có kiểm soát ngẫu nhiên (RCT) chứng minh tác dụng dự phòng khỏi các biến chứng mạch nhỏ dài hạn và làm giảm các sự cố mạch lớn nếu nồng độ đường huyết được giảm về mức bình thường.
Có hai cách chính để theo dõi việc kiểm soát nồng độ đường huyết của bệnh nhân là bệnh nhân tự theo dõi nồng độ đường huyết (SMBG) và định lượng hemoglobin A1c (HbA1c). Theo dõi liên tục nồng độ đường huyết để theo dõi và xử trí nồng độ đường huyết. Phương pháp tự theo dõi nồng độ đường huyết (SMBG) là bệnh nhân tự kiểm tra nồng độ đường huyết của mình trước các bữa ăn và trước khi đi ngủ, Với các lần kiểm tra theo chu kỳ nồng độ đường huyết trong giai đoạn sau bữa ăn và trong khi đi ngủ. Tần suất tiến hành việc tự theo dõi nồng độ đường huyết thay đổi từ 1 đến 4 lần kiểm tra hoặc nhiều hơn nữa mỗi ngày tùy thuộc vào mức độ tích cực trong điều trị kiểm soát đường huyết và nguy cơ bị hạ đường huyết> HbA1c phản ánh nồng độ đường huyết trong vòng 2 đến 3 tháng trước đó. Cần theo dõi nồng độ HbA1c mỗi 3 tháng/lần tới khi bệnh nhân đạt được mục tiêu điều trị và sau đó mỗi  6 tháng/lần nếu bệnh nhân ổn định và duy trì được đích điều trị. Các đích kiểm soát nồng độ đường huyết nên được xác định trước đối với từng cá thể bệnh nhân dựa trên tuổi và nguy cơ hạ đường huyết và có hay không có bệnh nội khoa đi kèm. Việc điều trị bình thường hóa HbA1c có thể thích hợp đối với nhiều bệnh nhân.
Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) quy định là đích nồng độ HbA1c cho các bệnh nhân riêng biệt có thể ở gần mức bình thường (<6%) nếu có thể đạt được mà không gây hạ đường huyết và các đích kém chặt hơn có thể thích hợp đối với các bệnh nhân còn rất trẻ, bệnh nhân quá già, các đối tượng có tiền sử bị hạ đường huyết nặng hoặc có thời gian sống được dự kiến không còn dài. Đích nồng độ HbA1c đối với trẻ em được điều chỉnh để cho phép tránh xảy ra tình trạng hạ đường huyết nghiêm trọng.
Cần lưu ý là nồng độ glucose trong máu mao mạch thấp hơn 10% đến 15% so với nồng độ glucose trong huyết tương. Các máy thử đường huyết thế hệ mới hơn được hiệu chuẩn để thông báo giá trị glucose huyết tương, vì vậy bệnh nhân cần giá trị glucose máu hay glucose huyết tương. Nếu có tình trạng không tương đồng giữa giá trị khi tự theo dõi nồng độ huyết tương (SMBG) được bệnh nhân báo cáo hoặc trên mô hình biểu diễn các kết quả đo nồng độ đường huyết bằng máy đo cá nhân và HbA1c, tiến hành định lượng nồng độ đường huyết bằng máy thử đường huyết cá nhân 1-2 giờ sau ăn có thể hữu ích. Nồng độ HbA1c tiếp tục cao mặc dù đường huyết có tình trạng dao động rộng đòi hỏi phải được thăm khám từ các bác sỹ chuyên khoa về bệnh đái tháo đường.
Đối với công tác dự phòng bệnh đái tháo đường, một số nghiên cứu đã cho thấy là bệnh đái tháo đường có thể được dự phòng nhờ hoặc các biện pháp thay đổi lối sống hoặc bằng thuốc. Cả ba nhóm đồng thuận ý kiến đã đưa ra khuyến cáo về các biện pháp thay đổi lối sống nhằm làm giảm cân cho các đối tượng quá cân và làm tăng hoạt động thể lực. Các nghiên cứu cho thấy việc thay đổi lối sống giúp làm giảm ≥5% trọng lượng cơ thể thông qua chế độ dinh dưỡng và hoạt động thể lực đã chứng minh là giảm tiến triển tới bệnh đái tháo đường từ 32% đến 58%. Các thuốc đã chứng minh có hiệu quả dự phòng bệnh đái tháo đường bao gồm metformin, acarbose, rosiglitazon, xenical và troglitazon. Hiện tại, các can thiệp bằng thuốc để dự phòng bệnh đái tháo đường không được khuyến cáo sử dụng, song tăng cường giám sát tình trạng đường huyết và đánh giá lâm sàng được khuyến khích nên làm.
    Quốc Nguyên
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 129

Số lượt truy cập: 9371873

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang