
Vừa qua, BS.Trần Minh Điển cùng các cộng sự Bệnh viện Nhi Trung ương đã báo cáo đề tài “Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy cụm tế bào gốc máu cuống rốn”, nghiên cứu được thực hiện từ năm 2010-2014 trên 305 mẫu cuống rốn từ những gia đình có con bị bệnh và những gia đình có nhu cầu lưu giữ máu cuống rốn dự phòng để phục vụ cho việc điều trị bệnh hay từ những người tình nguyện hiến cho cộng đồng.
Chúng ta biết rằng, trong quá trình phát triển, tế bào gốc tạo máu (HSCs) trải qua sự phân chia, tự tái tạo và tăng sinh để ra các tế bào tiền thân tạo máu (hematopoietic progenitors). Sau đó, các tế bào này tiếp tục biệt hóa để tạo các tế bào máu trưởng thành là các tế bào lympho T và B, tế bào NK, tế bào đuôi gai, bạch cầu mono/ đại thực bào, bạch cầu hạt, hồng cầu và tiểu cầu. Nhiều thử nghiệm in vitro và in vivo đã được sử dụng để mô tả các tế bào HSCs ở các giai đoạn của quá trình biệt hoá, trong đó CFU (colony forming unit) là loại thử nghiệm cho phép đánh giá tính tạo dòng của các tế bào này.
Có một số loại CFU được sử dụng để đánh giá tính tạo dòng của các HSCs như: đơn vị tạo cụm dòng hồng cầu (erythroid,CFU-E); đơn vị tạo cụm dòng bạch cầu hạt (granulocyte, CFU-G); đơn vị tạo cụm dòng bạch cầu mono/ đại thực bào (monocyte/macrophage, CFU-M); đơn vị tạo cụm dòng mạch cầu hạt- bạch cầu mono/ đại thực bào (granulocyte-monocyte/macrophage-megakaryocyte, CFU-GEMM), sẽ biệt hóa để thành các tế bào gốc đơn năng định hướng của một dòng tế bào máu như dòng hạt-mono (CFU-GM), dòng hồng cầu (CFU-E) và dòng tiểu cầu (CFU-megakaryocyte).
Trong 04 năm, các bác sĩ trong nhóm nghiên cứu đã thực hiện 380 lần nuôi cấy tại các thời điểm khác nhau để đánh giá khả năng mọc cụm CFU, cụ thể có 231 mẫu đã được nuôi cấy ngay sau khi xử lý ban đầu để đánh giá chất lượng mẫu sau xử lý và trước khi lưu trữ, chiếm 61%. 21 mẫu được nuôi cấy trong thời điểm 6 tháng, chiếm 5%. 78 mẫu được nuôi cấy tại thời điểm 12 tháng, chiếm 21% và 50 mẫu được nuôi cấy tại thời điểm 24 tháng, chiếm 13%. Nếu tính theo số thời điểm nuôi cấy trên một mẫu thì có 240 mẫu được nuôi cấy tại một thời điểm sau xử lý, 55 mẫu được nuôi cấy tại hai thời điểm: sau xử lý và sau lưu trữ hoặc 6 tháng, hoặc 12 tháng, hoặc 24 tháng để đánh giá chất lượng lưu trữ trong thời gian ngắn, trung bình và dài. Có 10 mẫu được nuôi cấy tại 3 thời điểm: sau xử lý, sau lưu trữ 12 tháng và 24 tháng.
Về kết quả nuôi cấy cụm CFU, đối với các mẫu sau xử lý, tỷ lệ mẫu thành công, quan sát thấy mọc các cụm CFU chiếm 96%. Tuy nhiên, tỷ lệ này thay đổi ở các thời điểm nuôi cấy sau lưu trữ. Tại thời điểm sau lưu trữ 6 tháng, 12 tháng và 24 tháng, tỷ lệ mọc cụm CFU có kết quả lần lượt là 69%, 61% và 72%.
Trong 55 mẫu được kiểm tra tại hai thời điểm, có 12 mẫu có kết quả mọc cụm CFU tốt tại thời điêm sau xử lý, nhưng lại không mọc cụm tại các thời điểm nuôi cấy tiếp theo, trong đó 2 mẫu không mọc tại thời điểm 6 tháng và 10 mẫu không mọc tại thời điểm 12 tháng. Nhóm nghiên cứu lựa chọn 10 mẫu có kết quả mọc cụm CFU thành công tại thời điểm sau xử lý để tiếp tục đánh giá chất lượng tại 2 thời điểm sau 12 tháng và sau 24 tháng. Trong đó, 3 mẫu mọc cụm CFU tốt tại cả 2 thời điểm này, 2 mẫu chỉ mọc cụm CFU tại thời điểm 12 tháng và 5 mẫu không mọc cụm CFU tại cả hai thời điểm. Ngoài ra, trong tổng số 305 mẫu được tiến hành nuôi cấy CFU, có 1 mẫu không mọc cụm CFU tại thời điểm sau xử lý và 6 tháng, 1 mẫu không mọc cụm CFU tại thời điểm 12 và 24 tháng.
Khi xem xét về kết quả mọc cụm CFU của các mẫu máu cuống rốn được nuôi cấy, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng hầu hết các mẫu thất bại không mọc cụm CFU thuộc về các nhóm mẫu sau lưu trữ. Điều này một mặt có thể được lý giải vì tỷ lệ sống của tế bào gốc máu cuống rốn sẽ giảm đi theo thời gian lưu trữ, mặt khác chưa loại trừ các nguyên nhân liên quan đến kỹ thuật xử lý, lưu trữ, rã đông và kỹ thuật nuôi cấy. Một số mẫu khi rã đông sau lưu trữ không được rửa chất bảo quản DMSO, một số mẫu bị đông khi tiến hành nuôi cấy. Mặt khác, trong nghiên cứu này, tỷ lệ không mọc cụm CFU không giảm dần đối với các mẫu sau lưu trữ 6 tháng, 12 tháng và 24 tháng.
Nhóm nghiên cứu đã đưa ra kết luận là kết quả mọc cụm CFU chiếm 96% tại thời điểm sau xử lý; 69%, 61% và 72% lần lượt tại thời điểm sau lưu trữ 6 tháng, 12 tháng và 24 tháng. Quan sát thấy cả ba loại cụm CFU-GM; CFU-GEMM, điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá chất lượng mẫu máu cuống rốn sau xử lý, sau lưu trữ và trước khi tiến hành ghép cho bệnh nhân.
Minh Tâm