
Theo tổ chức Y tế thế giới, ở Bắc Mỹ, Nhật và Thái Bình Dương proteine niệu dương tính được xem là một trong những yếu tố nguy cơ gây tai biến mạch máu não. Microalbumin niệu là sự tiết proteine niệu vượt quá mức bình thường nhưng không thể phát hiện được bằng những phương pháp thử thông thường. Microalbumin niệu được xem như một chỉ điểm của rối loạn chức năng nội mô lan tỏa và tổn thương mạch. Nhiều nghiên cứu gần đây ghi nhận microlbumin niệu là một yếu tố tiên đoán độc lập cho tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch, tai biến mạch máu não.
Từ tháng 4/2011 – 4/2012, Bác sĩ Nguyễn Thị Xuân Hạnh – Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa đã thực hiện nghiên cứu “Nồng độ microalbumin niệu ở bệnh nhân tai biến mạch máu não”. Nghiên cứu được thực hiện trên 68 bệnh nhân, định lượng microalbumin niệu bằng cách lấy mẫu nước tiểu ngẫu nhiên định lượng albumin niệu và creatinin niệu. Microalbumin niệu dương tính được xác định khi tỷ số albumin với creatinin niệu (ACR) 30-300mg/g (hay 3,5-35 mg/mmol).
Nghiên cứu bao gồm 2 mục tiêu là xác định nồng độ và tỷ lệ microalbumin niệu ở bệnh nhân tai biến mạch máu não và khảo sát mối liên quan giữa microalbumin niệu với một số yếu tố nguy cơ tai biến mạch máu não (tuổi, hút thuốc lá, huyết áp, glucose máu, bilan lipid), thang điểm Glasgow và thể tích tổn thương trên chụp não cắt lớp vi tính.
Nghiên cứu cho thấy nhóm tuổi trên 60 chiếm tỷ lệ 75%, nam giới 56%, bệnh nhân có bệnh tăng huyết áp chiếm 82%, hút thuốc lá 55%. Qua phân tích nghiên cứu cho thấy nguy cơ xuất hiện microalbumin niệu cao hơn ở bệnh nhân tai biến mạch máu não có các yếu tố nguy cơ: tuổi ≥ 60 (OR=4.14; 95% CI: 1.06-16.21; p<0.05); tăng huyết áp (OR=5.17; 95%CI: 1.055-25.356; p<0.05; tăng glucose máu (OR: 5.41; 95%CI: 1.717-17.08; p<0.05); tăng triglycerid (OR=3.83; 95%CI: 1.30-11.27; p<0.05) và hút thuốc lá (OR=3.03; 95%CI:1.08-8.51; p<0.05). Nồng độ microalbumin niệu tương quan với tuổi (r=0.31; p<0.05); huyết áp tâm thu (r=0.439; p<0.05; tryglycerid máu (r=0.301; p<0.05); thể tích tổn thương nhồi máu não trên chụp não cắt lớp vi tính (r=0.3205; p<0.05).
Nghiên cứu đã có khuyến nghị là cần kiểm soát các yếu tố nguy cơ (tăng huyết áp, hút thuốc lá, tăng đường máu, tăng triglycerid) nhằm giảm tỷ lệ microalbumin niệu.
Tỷ lệ nồng độ microalbumin niệu trong mẫu nghiên cứu rất cao ở thể nhồi máu não, đặc biệt có mối liên quan với các yếu tố nguy cơ kinh điển của tai biến mạch máu não, vì vậy nên định lượng microalbumin niệu trong tầm soát yếu tố nguy cơ, theo dõi điều trị và tiên lượng nhồi máu não.
Một nghiên cứu khác của Ths BS Nguyễn Huỳnh Hạnh Trinh – Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa đã thực hiện là “Nghiên cứu nồng độ Ferritin máu trên bệnh nhân tai biến mạch máu não”.
Nghiên cứu có 2 mục tiêu là xác định nồng độ ferritin máu ở bệnh nhân tai biến mạch máu não và đánh giá mối tương quan giữa nồng độ ferritin máu với một số yếu tố nguy cơ của tai biến mạch máu não, mối tương quan giữa nồng độ ferritin với thang điểm Glasgow và thể tích thương tổn.
Có 63 bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên tham gia nghiên cứu, bệnh nhân được chẩn đoán xác định tai biến mạch máu não từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt giới tính, nghề nghiệp vào điều trị tại bệnh viện Trung ương Huế, từ thnags 10/2011 đến tháng 4/2012. Loại trừ những bệnh nhân chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não thoáng qua, có dấu hiệu thần kinh khu trú do u não, động kinh, bệnh nhân có bệnh lý chấn thương, nhiễm trùng, các bệnh lý về máu, hay tình trạng thiếu sắt.
Tất cả các bệnh nhân được khai thác tiền sử, bệnh sử và khám lâm sàng tỉ mỉ. Đánh giá huyết áp và Glasgow lúc vào viện. Mẫu máu được lấy vào buổi sáng, lúc đói (sau khi nhập viện) và được đưa đến phòng xét nghiệm để định lượng glucose, bilan lipid, ferritin. Kết quả thu được chúng tôi đem so sánh với giá trị bình thường. Giá trị bình thường của lượng ferritin trong máu ở nam 12-300ng/mL, ở nữ 12-150 ng/mL. Thể tích thương tổn được xác định trên CT scan sọ não theo công thức 0,5abc (a, b là đường kính của thương tổn trên lát cắt; c là số lát cắt của thương tổn).
Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 67; nam giới chiếm 54%; 84% mắc bệnh tăng huyết áp; 16% có tiền sử tai biến mạch máu não.
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tăng ferritin máu là 60,32%; nồng độ ferritin máu là 341,28 ng/mL. Có mối tương quan giữa nồng độ ferritin và mức độ trầm trọng của bệnh theo thang điểm Glasgow và thể tích thương tổn. Chúng ta biết rằng tai biến mạch máu não cho tới nay vẫn là một vấn đề thời sự cấp thiết do những di chứng nặng nề về tâm thần kinh cũng như tỷ lệ tử vong cao của nó và là một gánh nặng cho gia đình và xã hội. Việc dự phòng và kiểm soát các yếu tố nguy cơ là chiến lược then chốt nhằm hạn chế tần suất xảy ra tai biến mạch máu não. Đồng thời việc đánh giá, tiên lượng bệnh để có hướng điều trị thích hợp, làm giảm tỷ lệ tử vong cho bệnh nhân cũng được quan tâm. Bên cạnh các yếu tố nguy cơ truyền thống như tuổi, giới, huyết áp, rối loạn lipid máu…, nhiều yếu tố nguy cơ mới cũng đã được đề cập, trong đó có ferritin. Hiện nay trên thế giới, một số công trình nghiên cứu đã khẳng định mối liên quan giữa ferritin và tai biến mạch máu não và xem đây là yếu tố nguy cơ cũng như dấu hiệu tiên lượng cho mức độ nặng của bệnh./.
Phương Thảo