[Đăng ngày: 01/07/2015]
Tại Hội nghị Khoa học trẻ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa mở rộng lần IV vào ngày 29/5/2015, ThS BS Phạm Công Nhựt – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa đã có báo cáo đề tài “Kết quả tức thời nong van động mạch phổi bằng bóng qua da trên bệnh nhân hẹp van động mạch phổi tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa”.
Đề tài được thực hiện nghiên cứu trên 25 bệnh nhân từ nhũ nhi, sơ sinh đến trẻ lớn được chẩn đoán hẹp van động mạch phổi có chỉ định can thiệp bằng ống thông qua da. Tiêu chí chọn bệnh nhân tham gia nghiên cứu là những bệnh nhân hẹp tại van động mạch phổi có chênh áp qua van lớn hơn 50 mmHg hoặc lớn hơn 30 mmHg mà có triệu chứng lâm sàng của rối loạn chức năng tim phải.
Sau khi bước chuẩn bị bệnh nhân được thực hiện, làm đủ bilan xét nghiệm, bệnh nhân và gia đình được giải thích hiểu rõ về quy trình can thiệp, bệnh nhân được vệ sinh vùng bẹn 2 bên; gây tê tại chỗ bằng lidocain 2%; chích tĩnh mạch đùi, luồn sheath 5F; chích heparin 50-100UI/kg để đạt ACT> 200s; chích kháng sinh cefazolin 1g (20-30 mg/kg) liều 1; lặp lại liều 2 sau 6-8 giờ; đưa Pitail 4F hoặc 5F có marker và dây dẫn thường (standard wire) hoặc guide ái nước (Terumo wire) vào thất phải, đo áp lực thất phải; chụp hình buồng thất phải, tư thế chụp biplane (view trước sau LAO 150, cranial 350 và view lateral, lượng cản quang 1-2 ml/kg, thời gian chụp 1-2 giây; ghi nhận hình dạng và đo kích thước động mạch phổi (dưới van, vòng van và trên van), ghi nhận những sang thương phối hợp. Chọn bóng Tyshak kích thước gấp 1.2-1.25 lần so với kích thước vòng van động mạch phổi, chiều dài của bóng là 20mm cho trẻ sơ sinh và nhũ nhi, 30mm cho trẻ em và 40mm cho thanh thiếu niên và người lớn. Đưa ống thông mạch phổi 5F + guide terumo theo đường tĩnh mạch lên động mạch phổi. Qua van động mạch phổi bằng các dây dẫn có kích thước thích hợp (dây dẫn can thiệp 0.014’’, 0.018’’), sau đó thay bằng dây dẫn amplatz hoặc giữ nguyên các dây dẫn này theo kích cỡ của bóng nong. Thay sheath lớn hơn thích hợp với cỡ bóng. Đưa bóng Tyshak hoặc VASC vào nong van động mạch phổi, bơm bóng nong bằng bộ bơm bóng áp lực cao (Encore), áp lực nong bóng có thể từ 2-8.5 atm tùy theo loại bóng, có thể nong nhiều lần (1-4 lần) để đạt được hiệu quả mong muốn (khi không còn thấy eo), thời gian mỗi lần nong càng ngắn càng tốt (khoảng 5-60 giây), sau mỗi lần nong, kéo bóng xuống khỏi buồng tống thất phải, tránh gây co thắt buồng tống thất phải. Đưa ống thông mạch phổi lên lại động mạch phổi để đo chênh áp lực giữa động mạch phổi và thất phải để đánh giá kết quả.
Sau khi thông tim mạch can thiệp, bệnh nhân nằm lại theo dõi ở phòng hồi tỉnh ít nhất 2 giờ cho tới khi bệnh nhân tỉnh hẳn và dấu hiệu sinh tồn ổn định, theo dõi sát dấu hiệu sinh tồn trên lâm sàng và trên monitor. Khi chuyển bệnh nhân về khoa, để bệnh nhân nằm tại giường, bất động chân bị chích. Bác sĩ trực và điều dưỡng bệnh phòng phải theo dõi lâm sàng và dấu hiệu sinh tồn mỗi 2 giờ trong 6 giờ đầu tại khoa. Ngày hôm sau, bác sĩ bệnh phòng cho kiểm tra siêu âm tim Doppler màu và quyết định cho xuất viện. Khi cho xuất viện bệnh nhân được làm đầy đủ hồ sơ tái khám ở phòng khám và dặn dò gia đình những vấn đề liên quan.
Trong 25 bệnh nhân có 19 bệnh nhân hẹp van động mạch phổi đơn thuần, 5 bệnh nhân có bệnh kèm là còn ống động mạch và 01 bệnh nhân kèm thông liên nhĩ. Có 15 bệnh nhân là nam; có triệu chứng tím tái lúc nghỉ ở 05 trường hợp; tuổi trung bình là 31 tháng, trường hợp nhỏ tuổi nhất là 01 ngày tuổi; cân nặng trung bình là 12 kg, nhỏ nhất là 03 kg.
Áp lực trung bình thất phải tâm thu và chênh áp tối đa qua van động mạch phổi trước và sau nong giảm lần lượt là 72± 25 xuống 44± 21 mmHg, 42± 20 xuống 17± 8mmHg và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P ≤ 0,001. Tỷ lệ các biến chứng nặng 0%.
Bs Phạm Công Nhựt đã có kết luận của nghiên cứu là nong van động mạch phổi bằng bóng là một phương pháp điều trị an toàn và cho kết quả hữu hiệu trong điều trị hẹp van động mạch phổi.
Chúng ta biết rằng hẹp van động mạch phổi là tổn thương thực thể bẩm sinh gây nghẽn đường máu lên phổi. Tỷ lệ phát hiện bệnh là 0,6-0,8/1.000 trẻ sinh ra và chiếm tỷ lệ 8-12% các bệnh tim bẩm sinh. Hẹp van động mạch phổi là nguyên nhân hàng đầu gây suy tim phải ở trẻ em.
Phương pháp điều trị trước kia là phẫu thuật tạo hình van. Năm 1982 Kan và cộng sự lần đầu tiên giới thiệu kỹ thuật tạo hình van động mạch phổi bằng bóng qua da. Cùng với sự phát triển và hỗ trợ khoa học kỹ thuật, nhiều nghiên cứu đã chứng minh được tính hiệu quả (giảm chi phí điều trị, tránh cuộc phẫu thuật lớn và hậu phẫu nặng nề, rút ngắn thời gian điều trị) và an toàn của phương pháp nong van động mạch phổi bằng bóng qua da. Hiệu quả tức thời và lâu dài của phương pháp điều trị này hiện vẫn còn là đề tài nghiên cứu thu hút sự quan tâm của nhiều người trong việc theo dõi mức độ giảm chênh áp qua van sau nong, các rối loạn huyết động bất thường, sự cần thiết của nong van lần 2, các biến chứng xảy ra tùy thuộc vào type, mức độ hẹp và độ tuổi điều trị của bệnh nhân./.       
Hữu Tráng
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 128

Số lượt truy cập: 9371871

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang