[Đăng ngày: 01/08/2016]
Dự trữ buồng trứng là khái niệm dùng để xác định tiềm năng sinh sản của phụ nữ, cũng như chức năng, số lượng và chất lượng trứng còn lại của mình. Hiện tại, chưa có một yếu tố độc lập nào có độ chính xác cao trong đánh giá dự trữ buồng trứng và tiên đoán đáp ứng buồng trứng trong kích thích buồng trứng. Các bác sĩ thường sử dụng một số yếu tố về lâm sàng, nội tiết hay siêu âm để đánh giá dự trữ buồng trứng, từ đó, tiên đoán đáp ứng của buồng trứng. Các yếu tố thường được sử dụng như tuổi của người phụ nữ, nồng độ FSH, inhibinB vào ngày 3 của chu kỳ kinh và siêu âm đếm số nang noãn thứ cấp ở đầu chu kỳ kinh.
Gần đây, anti-Mullerian hormone (AMH) được chuyên gia thụ tinh trong ống nghiệm tập trung nghiên cứu như là một chỉ điểm của chức năng buồng trứng. AMH là một glycoprotein của buồng trứng được sản xuất từ các tế bào hạt của nang noãn sơ cấp, tiền hốc và có hốc ở giai đoạn sớm nhưng không có ở các nang noãn thoái hóa hay đang phát triển. Nồng độ AMH trong máu được ghi nhận tùy thuộc vào số lượng và hoạt động của các nang noãn nhỏ, giảm trong suốt cuộc đời người phụ nữ và không còn ở tuổi mãn kinh. Ngoài ra, định lượng AMH có khả năng ứng dụng lâm sàng cao do nồng độ AMH được ghi nhận không thay đổi trong chu kỳ kinh nguyệt, khi người phụ nữ đang mang thai, đang điều trị với GnRH đồng vận hay dùng thuốc ngừa thai ngắn hạn, vì vậy, bệnh nhân có thể thực hiện xét nghiệm AMH ở bất kỳ thời điểm nào của chu kỳ kinh nguyệt.
Nhiều kết quả từ các nghiên cứu tìm mối tương quan giữa AMH và đáp ứng buồng trứng cho thấy giá trị ngưỡng của AMH để tiên đoán đáp ứng buồng trứng kém hay nguy cơ quá kích buồng trứng vẫn còn rất khác biệt.
Từ tháng 10/2014 đến tháng 6/2015 nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Xuân Hợi Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Hoàng Văn Hùng – Đại học Y Hà Nội tiến hành nghiên cứu đề tài “Giá trị tiên lượng của AMH đối với đáp ứng của buồng trứng trong thụ tinh trong ống nghiệm bằng phác đồ GnRH antagonist”.
Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân là tất cả các bệnh nhân tự nguyện tham gia, được chọc hút noãn kích thích buồng trứng bằng phác đồ antagonist, tuổi 18-45, kích thích buồng trứng bằng FSH tái tổ hợp. Tiêu chuẩn loại trừ là các bệnh nhân kích thích buồng trứng bằng các phác đồ khác như phác đồ dài và agonist, các trường hợp cho nhận noãn.
Có 600 bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm được kích thích buồng trứng bằng phác đồ GnRN antagonist, sử dụng FSH tái tổ hợp, liều FSH ban đầu được xác định dựa trên tuổi bệnh nhân, AMH, AFC…khi có ít nhất 2 nang noãn ≥ 18mm, hCG được sử dụng để gây trưởng thành nang noãn. Chọc hút nang được tiến hành 36h sau tiêm hCG.
Tiêu chuẩn đánh giá đáp ứng của buồng trứng theo số noãn thu được: đáp ứng kém khi số noãn thu được < 4 noãn (đồng thuận Bologna, ferrreretti, 2011); đáp ứng quá mức khi số noãn thu được > 15 noãn (Sunkara, 2011) và đáp ứng tốt khi số noãn thu được từ 4-15 noãn.
Theo báo cáo của BS Nguyễn Xuân Hợi, tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 31,7; nhóm tuổi 30-34 chiếm tỷ lệ cao nhất là 42%, tuổi nhỏ nhất là 18 và lớn nhất là 45 tuổi. Nhóm vô sinh I hay gặp nhất chiếm 54,7%, vô sinh II chiếm 45,3%. Thời gian vô sinh trung bình là 5,0 ± 3,2, thời gian vô sinh hay gặp nhất dưới 5 năm chiếm 52,2%. Có 33 đối tượng thời gian vô sinh lâu nhất là trên 10 năm. Bệnh nhân vô sinh chưa rõ nguyên nhân chiếm tỷ lệ cao nhất 44,2%. Số nang AFC thấp nhất là 1; cao nhất là 30; trung bình là 13,0 ± 10,8. Nồng độ AMH thấp nhất là 0,2; cao nhất là 23,6; trung bình là 4,57 ± 3,25. Nồng độ FSH thấp nhất là 0,09; cao nhất là 15,00; trung bình là 5,97 ± 4,56. Nồng độ E2 thấp nhất là 1,54; cao nhất là 174,00; trung bình là 36,22 ± 19,00. Tổng liều rFSH trung bình là 1971,2 ± 753,4; tổng liều thấp nhất 400, cao nhất là 6750. Số ngày kích thích buồng trứng trung bình 9,84 ± 1,16; thấp nhất là 8 ngày, nhiều nhất là 15 ngày. Số nang noãn ≥ 14mm trung bình 12,09 ± 5,74; thấp nhất 3 nang, nhiều nhất 30 nang. Số noãn chọc hút được trung bình 13,21 ± 6,66; thấp nhất 0 noãn (có 6 bệnh nhân), nhiều nhất 30 noãn. Số noãn thu được < 4 chiếm 4,7% (28 bệnh nhân), từ 4-15 noãn chiếm 62,3% (374 bệnh nhân), trên 15 noãn chiếm 33% (198 bệnh nhân). Tỷ lệ đáp ứng kém là 4,7%, đáp ứng tốt là 62,3%, đáp ứng quá mức là 33%.
Đối với giá trị trung bình của AMH, tỷ lệ đáp ứng buồng trứng kém là 4,7% (28 bệnh nhân); đáp ứng tốt là 62,3% (374 bệnh nhân); đáp ứng quá mức là 33% (198 bệnh nhân). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của nồng độ AMH giữa các nhóm đáp ứng. Nồng độ AMH rất thấp ở nhóm đáp ứng kém, cao hơn ở nhóm đáp ứng tốt và rất cao ở nhóm đáp ứng quá mức với p < 0,001.
Tác giả nghiên cứu phân tích, qua nghiên cứu 600 bệnh nhân có đủ xét nghiệm AMH có 28 bệnh nhân có số noãn thu được < 4 noãn chiếm tỷ lệ 4,7%. Nồng độ trung bình của AMH trong nhóm đáp ứng kém là 1,04 ± 0,52. Khác biệt có ý nghĩa thống kê với hai nhóm còn lại, p < 0,001. Kết quả nghiên cứu cho thấy AMH trong dự báo đáp ứng kém và tốt trong kích thích buồng trứng là 1,52 ng/ml với độ nhạy 80% và độ đặc hiệu 93%. Nghĩa là, nồng độ AMH của một bệnh nhân ≤ 1,52 ng/ml thì bệnh nhân này có khả năng xảy ra đáp ứng kém trong kích thích buồng trứng với độ nhạy 80% và độ đặc hiệu 93%. Giá trị tiên lượng của AMH trong đáp ứng kém được thể hiện qua tương quan giữa nồng độ AMH với số noãn và độ nhạy và độ đặc hiệu qua diện tích dưới đường cong ROC.
600 đối tượng nghiên cứu có 198 đối tượng chọc hút noãn có > 15 noãn chiếm tỷ lệ 33%. Nồng độ trung bình của AMH trong nhóm đáp ứng quá mức là 7,02 ± 3,73. Khác biệt có ý nghĩa thống kê với hai nhóm còn lại, p < 0,001. Điểm cắt của đồ thị cho AMH trong dự báo đáp ứng quá mức trong kích thích buồng trứng là 4,04 với độ nhạy 73% và độ đặc hiệu 61%.
Qua nghiên cứu 600 bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm được kích thích buồng trứng bằng phác đồ antagonist, sử dụng FSH tái tổ hợp, nhóm nghiên cứu rút ra được một số kết luận sau: giá trị ngưỡng của AMH trong đáp ứng kém là 1,52 ng/ml; độ nhạy 80%, độ đặc hiệu 93%. Nồng độ AMH ≤ 1,52 ng/ml thì nguy cơ đáp ứng kém cao gấp 7,4 lần khi AMH > 1,52 ng/ml. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Giá trị ngưỡng của AMH trong đáp ứng quá mức là 4,04 ng/ml; độ nhạy 73%; độ đặc hiệu 61%. Nồng độ AMH ≥ 4,04 ng/ml thì nguy cơ đáp ứng quá mức cao gấp 2,69 lần khi AMH < 4,04 ng/ml. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001./.   
Thanh Tùng 
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 267

Số lượt truy cập: 9361341

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang