{1}
##LOC[OK]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
Trang chủ
Văn bản pháp luật
Văn bản Sở Y tế
Thủ tục hành chính
Danh mục TTHC của Sở Y tế
Cơ sở thực hành đào tạo
Văn kiện - Tài liệu
Hỏi/Đáp
Giới thiệu
Giới thiệu chung
Cơ cấu tổ chức
Chức năng, nhiệm vụ
Quy hoạch phát triển Y tế
Thành tựu
Quá trình hình thành và phát triển
Quản lý lĩnh vực Y tế
Lĩnh vực Y
Lĩnh vực Dược
An toàn vệ sinh thực phẩm
Dân số KHHGĐ/SKSS
Bảo hiểm Y tế
Kết quả thủ tục hành chính
Giải quyết khiếu nại, tố cáo
Thống kê Y tế
Xã hội hóa Y, Dược tư nhân
Phòng chống dịch
Bảo trợ - Xã hội
Thông tin hành nghề
Hành nghề Y tư nhân
Hành nghề Dược tư nhân
An toàn vệ sinh thực phẩm
Tin tức - sự kiện
Y tế cơ sở
Chương trình mục tiêu
Đào tạo
Nghiên cứu khoa học
Giáo dục sức khỏe
Mô hình, sáng kiến, kinh nghiệm
Cải cách hành chính
Danh mục TTHC SYT
Quy định, Chỉ đạo, Đề án
Chương trình, Kế hoạch
Tin bài, hoạt động
Báo cáo, thống kê, xếp hạng
Chuyển đổi số ngành Y tế
Nâng lực cạnh tranh (PCI)
Gương điển hình tiên tiến
Chỉ số phục vụ của SYT
Dự án đầu tư, mua sắm
Dự án
Thông tin đấu thầu
Mua sắm
Tuyên truyền VBQL-PL
Văn bản QPPL Nhà nước
Văn bản QPPL Y tế
Văn bản Sở Y tế
Công tác khác
Văn thư lưu trữ
Công khai ngân sách
Hệ thống QLCL TCVN 9001:2008
Lịch công tác tuần
Dân hỏi
Điều động, bổ nhiệm
Liên kết website
Chọn website
Thu thập số liệu mắt hột
Chỉnh phủ
Tỉnh Khánh Hoà
Sở Giáo Dục
Cục Y tế dự phòng
Cục Quản lý Khám chữa bệnh
Cục xúc tiến thương mại
Thị trường nước ngoài
Thương mại điện tử
Báo Người lao động
Báo Thanh niên
Sử dụng năng lượng tiết kiệm
Sở Kế Hoạch Đầu Tư
BQL Khu Kinh Tế Vân Phong
Đề tài khoa học
Giá trị tiên lượng thụ tinh trong ống nghiệm
[Đăng ngày: 01/08/2016]
Dự trữ buồng trứng là khái niệm dùng để xác định tiềm năng sinh sản của phụ nữ, cũng như chức năng, số lượng và chất lượng trứng còn lại của mình. Hiện tại, chưa có một yếu tố độc lập nào có độ chính xác cao trong đánh giá dự trữ buồng trứng và tiên đoán đáp ứng buồng trứng trong kích thích buồng trứng. Các bác sĩ thường sử dụng một số yếu tố về lâm sàng, nội tiết hay siêu âm để đánh giá dự trữ buồng trứng, từ đó, tiên đoán đáp ứng của buồng trứng. Các yếu tố thường được sử dụng như tuổi của người phụ nữ, nồng độ FSH, inhibinB vào ngày 3 của chu kỳ kinh và siêu âm đếm số nang noãn thứ cấp ở đầu chu kỳ kinh.
Gần đây, anti-Mullerian hormone (AMH) được chuyên gia thụ tinh trong ống nghiệm tập trung nghiên cứu như là một chỉ điểm của chức năng buồng trứng. AMH là một glycoprotein của buồng trứng được sản xuất từ các tế bào hạt của nang noãn sơ cấp, tiền hốc và có hốc ở giai đoạn sớm nhưng không có ở các nang noãn thoái hóa hay đang phát triển. Nồng độ AMH trong máu được ghi nhận tùy thuộc vào số lượng và hoạt động của các nang noãn nhỏ, giảm trong suốt cuộc đời người phụ nữ và không còn ở tuổi mãn kinh. Ngoài ra, định lượng AMH có khả năng ứng dụng lâm sàng cao do nồng độ AMH được ghi nhận không thay đổi trong chu kỳ kinh nguyệt, khi người phụ nữ đang mang thai, đang điều trị với GnRH đồng vận hay dùng thuốc ngừa thai ngắn hạn, vì vậy, bệnh nhân có thể thực hiện xét nghiệm AMH ở bất kỳ thời điểm nào của chu kỳ kinh nguyệt.
Nhiều kết quả từ các nghiên cứu tìm mối tương quan giữa AMH và đáp ứng buồng trứng cho thấy giá trị ngưỡng của AMH để tiên đoán đáp ứng buồng trứng kém hay nguy cơ quá kích buồng trứng vẫn còn rất khác biệt.
Từ tháng 10/2014 đến tháng 6/2015 nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Xuân Hợi Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Hoàng Văn Hùng – Đại học Y Hà Nội tiến hành nghiên cứu đề tài “Giá trị tiên lượng của AMH đối với đáp ứng của buồng trứng trong thụ tinh trong ống nghiệm bằng phác đồ GnRH antagonist”.
Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân là tất cả các bệnh nhân tự nguyện tham gia, được chọc hút noãn kích thích buồng trứng bằng phác đồ antagonist, tuổi 18-45, kích thích buồng trứng bằng FSH tái tổ hợp. Tiêu chuẩn loại trừ là các bệnh nhân kích thích buồng trứng bằng các phác đồ khác như phác đồ dài và agonist, các trường hợp cho nhận noãn.
Có 600 bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm được kích thích buồng trứng bằng phác đồ GnRN antagonist, sử dụng FSH tái tổ hợp, liều FSH ban đầu được xác định dựa trên tuổi bệnh nhân, AMH, AFC…khi có ít nhất 2 nang noãn ≥ 18mm, hCG được sử dụng để gây trưởng thành nang noãn. Chọc hút nang được tiến hành 36h sau tiêm hCG.
Tiêu chuẩn đánh giá đáp ứng của buồng trứng theo số noãn thu được: đáp ứng kém khi số noãn thu được < 4 noãn (đồng thuận Bologna, ferrreretti, 2011); đáp ứng quá mức khi số noãn thu được > 15 noãn (Sunkara, 2011) và đáp ứng tốt khi số noãn thu được từ 4-15 noãn.
Theo báo cáo của BS Nguyễn Xuân Hợi, tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 31,7; nhóm tuổi 30-34 chiếm tỷ lệ cao nhất là 42%, tuổi nhỏ nhất là 18 và lớn nhất là 45 tuổi. Nhóm vô sinh I hay gặp nhất chiếm 54,7%, vô sinh II chiếm 45,3%. Thời gian vô sinh trung bình là 5,0 ± 3,2, thời gian vô sinh hay gặp nhất dưới 5 năm chiếm 52,2%. Có 33 đối tượng thời gian vô sinh lâu nhất là trên 10 năm. Bệnh nhân vô sinh chưa rõ nguyên nhân chiếm tỷ lệ cao nhất 44,2%. Số nang AFC thấp nhất là 1; cao nhất là 30; trung bình là 13,0 ± 10,8. Nồng độ AMH thấp nhất là 0,2; cao nhất là 23,6; trung bình là 4,57 ± 3,25. Nồng độ FSH thấp nhất là 0,09; cao nhất là 15,00; trung bình là 5,97 ± 4,56. Nồng độ E2 thấp nhất là 1,54; cao nhất là 174,00; trung bình là 36,22 ± 19,00. Tổng liều rFSH trung bình là 1971,2 ± 753,4; tổng liều thấp nhất 400, cao nhất là 6750. Số ngày kích thích buồng trứng trung bình 9,84 ± 1,16; thấp nhất là 8 ngày, nhiều nhất là 15 ngày. Số nang noãn ≥ 14mm trung bình 12,09 ± 5,74; thấp nhất 3 nang, nhiều nhất 30 nang. Số noãn chọc hút được trung bình 13,21 ± 6,66; thấp nhất 0 noãn (có 6 bệnh nhân), nhiều nhất 30 noãn. Số noãn thu được < 4 chiếm 4,7% (28 bệnh nhân), từ 4-15 noãn chiếm 62,3% (374 bệnh nhân), trên 15 noãn chiếm 33% (198 bệnh nhân). Tỷ lệ đáp ứng kém là 4,7%, đáp ứng tốt là 62,3%, đáp ứng quá mức là 33%.
Đối với giá trị trung bình của AMH, tỷ lệ đáp ứng buồng trứng kém là 4,7% (28 bệnh nhân); đáp ứng tốt là 62,3% (374 bệnh nhân); đáp ứng quá mức là 33% (198 bệnh nhân). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của nồng độ AMH giữa các nhóm đáp ứng. Nồng độ AMH rất thấp ở nhóm đáp ứng kém, cao hơn ở nhóm đáp ứng tốt và rất cao ở nhóm đáp ứng quá mức với p < 0,001.
Tác giả nghiên cứu phân tích, qua nghiên cứu 600 bệnh nhân có đủ xét nghiệm AMH có 28 bệnh nhân có số noãn thu được < 4 noãn chiếm tỷ lệ 4,7%. Nồng độ trung bình của AMH trong nhóm đáp ứng kém là 1,04 ± 0,52. Khác biệt có ý nghĩa thống kê với hai nhóm còn lại, p < 0,001. Kết quả nghiên cứu cho thấy AMH trong dự báo đáp ứng kém và tốt trong kích thích buồng trứng là 1,52 ng/ml với độ nhạy 80% và độ đặc hiệu 93%. Nghĩa là, nồng độ AMH của một bệnh nhân ≤ 1,52 ng/ml thì bệnh nhân này có khả năng xảy ra đáp ứng kém trong kích thích buồng trứng với độ nhạy 80% và độ đặc hiệu 93%. Giá trị tiên lượng của AMH trong đáp ứng kém được thể hiện qua tương quan giữa nồng độ AMH với số noãn và độ nhạy và độ đặc hiệu qua diện tích dưới đường cong ROC.
600 đối tượng nghiên cứu có 198 đối tượng chọc hút noãn có > 15 noãn chiếm tỷ lệ 33%. Nồng độ trung bình của AMH trong nhóm đáp ứng quá mức là 7,02 ± 3,73. Khác biệt có ý nghĩa thống kê với hai nhóm còn lại, p < 0,001. Điểm cắt của đồ thị cho AMH trong dự báo đáp ứng quá mức trong kích thích buồng trứng là 4,04 với độ nhạy 73% và độ đặc hiệu 61%.
Qua nghiên cứu 600 bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm được kích thích buồng trứng bằng phác đồ antagonist, sử dụng FSH tái tổ hợp, nhóm nghiên cứu rút ra được một số kết luận sau: giá trị ngưỡng của AMH trong đáp ứng kém là 1,52 ng/ml; độ nhạy 80%, độ đặc hiệu 93%. Nồng độ AMH ≤ 1,52 ng/ml thì nguy cơ đáp ứng kém cao gấp 7,4 lần khi AMH > 1,52 ng/ml. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Giá trị ngưỡng của AMH trong đáp ứng quá mức là 4,04 ng/ml; độ nhạy 73%; độ đặc hiệu 61%. Nồng độ AMH ≥ 4,04 ng/ml thì nguy cơ đáp ứng quá mức cao gấp 2,69 lần khi AMH < 4,04 ng/ml. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001./.
Thanh Tùng
Chi tiết
Các tin khác
31/07/2016:
Nghiên cứu bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở người cao tuổi
28/07/2016:
Đặc điểm hành vi phạm tội ở người sử dụng rượu
27/07/2016:
Đặc điểm triệu chứng bệnh nhân Basedow mang thai
27/07/2016:
Đặc điểm mô bệnh học polyp mũi
25/07/2016:
Phát hiện đột biến gen KRAS trong ung thư Đại trực tràng
22/07/2016:
Nhận xét tình hình đẻ song thai
21/07/2016:
Nhiễm khuẩn sơ sinh sớm
21/07/2016:
Giá trị sinh thiết cắt lạnh trong phẫu thuật
19/07/2016:
Sinh thiết cắt lạnh và những điều cần quan tâm
19/07/2016:
Khảo sát đặc điểm bệnh Thalassemia ở phụ nữ có thai
Tìm kiếm
Văn bản Sở Y tế
THỜI TIẾT
Nha Trang
Hồ Chí Minh
Hà Nội
Đà Lạt
Đà Nẵng
Thừa Thiên Huế
Độ ẩm:
Gió:
Thống kê online
Đang online:
267
Số lượt truy cập:
9361341
SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa