[Đăng ngày: 02/08/2016]
Từ tháng 8/2015 đến tháng 3/2016 nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Thị Thanh Yên cùng cộng sự Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Trường đại học Y Hà Hội tiến hành nghiên cứu đề tài “Tỷ lệ nhiễm Human Papilloma Virus ở phụ nữ đến khám tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương”.
Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu là tất cả các phụ nữ trong độ tuổi sinh sản có nhu cầu xét nghiệm HPV phân tử. Quy trình nghiên cứu: những phụ nữ đủ tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu được khám phụ khoa, lấy bệnh phẩm ở cổ tử cung bằng bàn chải và được cố định ngay trong dung dịch bảo quản. Xác định 14 typ HPV nguy cơ cao, trong đó định danh 2 týp riêng biệt 16, 18 và gộp 12 týp nguy cơ cao (31,33,35,39,45,51,52,56,59,66 và 68) còn lại bằng kỹ thuật PCR trên hệ thống tự động Cobas® 4800 tại Khoa Giải phẫu bệnh, Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Bệnh phẩm thừa lại sau khi làm xét nghiệm định typ HPV đã được dùng xét nghiệm tế bào học theo phương pháp Liquid-Prep. Các trường hợp có kết quả tế bào học bất thường và/hoặc HPV test dương tính đã được soi cổ tử cung, sinh thiết để chẩn đoán mô bệnh học. Các trường hợp có kết quả mô bệnh học bất thường được điều trị bằng các phương pháp thích hợp tùy thuộc vào mức độ tổn thương.
Theo báo cáo của tác giả nghiên cứu, tuổi trung bình của 1212 phụ nữ được xét nghiệm HPV là 36,55. Trong đó, phụ nữ có tuổi trẻ nhất là 19 tuổi và có tuổi cao nhất là 68 tuổi. Nhóm tuổi được xét nghiệm cao nhất là 30-39 tuổi chiếm 36,55%, tiếp theo là nhóm tuổi 40-49, < 30 và ≥ 50 lần lượt là 31,10%, 25,66% và 6,69%.
Trên 1212 phụ nữ được làm xét nghiệm HPV-DNA có 237 trường hợp có kết quả dương tính với các typ HPV 16, 18 và 12 typ HPV nguy cơ cao khác chiếm tỷ lệ 19,55%. Trong đó nhóm tuổi < 30 tuổi có 64 trường hợp (27,00%), nhóm tuổi 30-39 có số trường hợp dương tính cao nhất là 79 trường hợp  (33,34%), tiếp theo là nhóm tuổi 40-49 có 77 trường hợp (32,49%) và ít nhất là nhóm phụ nữ  > 50 tuổi có 17 trường hợp (7,17%).
Theo phân tích của BS Phạm Thị Thanh Yên, có 148 trường hợp bị nhiễm một trong 12 typ HPV nguy cơ cao chiếm tỷ lệ cao nhất là 62,44%, tiếp theo là týp 16 HPV có 39 trường hợp chiếm 16,46%, bị nhiễm trên 2 týp có 34 trường hợp chiếm 14,35%, týp 18 ít gặp nhất, có 16 trường hợp chiếm 6,75%.
Đa số các trường hợp chỉ nhiễm với 1 trong 14 týp HPV nguy cơ cao chiếm tới 86,64%, số trường hợp nhiễm hơn 2 týp HPV chỉ 14,36%.
Tác giả nghiên cứu cũng lưu ý, theo nhiều nghiên cứu khác nhau, tỷ lệ nhiễm HPV có thể khác nhau giữa các vùng của một quốc gia, giữa các quốc gia do chịu ảnh hưởng rất lớn bởi một số yếu tố như môi trường, lối sống, hành vi tình dục và tình trạng kinh tế xã hội. Nghiên cứu này tiến hành trong bệnh viện trên những phụ nữ khám phụ khoa vì các lý do liên quan đến bệnh phụ khoa nên tỷ lệ cao hơn các nghiên cứu tại cộng đồng trước đó. Nhưng dù với lý do gì, tỷ lệ như vậy là quá cao và đáng lo ngại, nếu chúng ta không có kế hoạch sàng lọc ung thư cổ tử cung toàn diện để phát hiện sớm các tổn thương tiền ung thư, điều trị kịp thời thì trong tương lai, tỷ lệ ung thư cổ tử cung sẽ tăng đó là gánh nặng cho người bệnh cũng như cho ngành y. Với tỷ lệ cao như vậy, ngành Y tế cũng cần chuẩn bị kế hoạch, tài chính để thực hiện tiêm phòng vắc xin HPV, gắn với công việc tuyên truyền hành vi tình dục an toàn và lối sống lành mạnh, chung thủy. Trong nghiên cứu này, nhóm 12 týp HPV nguy cơ cao bao gồm các týp 31, 33, 35, 39, 45, chiếm 62,44%, tiếp theo là týp 16, nhiễm nhiều hơn 1 týp lần lượt chiếm 16,46% và 14,35%, tỷ lệ nhiễm týp 18 thấp nhất chỉ chiếm 6,75%. Vì trong nghiên cứu này định týp HPV trên hệ thống Cobas® 4800 tự động, kết quả cho biết týp 16, týp 18 riêng biệt, còn 12 týp nguy cơ cao còn lại được gộp trung thành 1 nhóm không định danh riêng biệt từng týp, điều này lý giải tại sao 12 týp có tần xuất gặp cao nhất. Tuy nhiên nếu tính riêng cho từng týp theo tác giả nghiên cứu thì týp 16 và týp 18 là thường gặp nhất.
Kết luận nghiên cứu, BS Phạm Thị Thanh Yên đưa ra 2 nhận xét (1) Tỷ lệ nhiễm HPV nguy cơ cao tăng nhanh trong những năm gần đây đạt tới 19,55%, chủ yếu là nhiễm 1 týp HPV chiếm 85,64%; (2) Tỷ lệ nhiễm týp 16 là 16,44%; týp 18 là 6,75% và 12 týp nguy cơ cao còn lại là 62,44%. Phối hợp hơn 1 týp có tỷ lệ là 14,36%.
       Hữu Lai
 
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 267

Số lượt truy cập: 9361342

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang