
Song thai là trường hợp đặc biệt của thai nghén và được cho rằng đó là thai nghén có nguy cơ cao vì thường gây những hậu quả xấu cho mẹ và thai, nhất là sinh non – nguyên nhân hàng đầu gây bệnh lý và tử vong ở trẻ sơ sinh.
Cùng với sự phát triển của y học hiện đại áp dụng các biện pháp hỗ trợ sinh sản tiên tiến, tỷ lệ đa thai mà chủ yếu là song thai đã tăng lên một cách đáng kể trong một thập kỷ qua. Các thai phụ chửa song thai đối mặt với nguy cơ cao mắc một số bệnh lý đặc biệt như tiền sản giật, đẻ non, đái tháo đường thai nghén, băng huyết sau sinh…Thống kê cho thấy tỷ lệ đẻ non trong song thai có thể chiếm trên 50% các trường hợp, trong đó gần 20% đẻ non trước 28 tuần. Bên cạnh nguy cơ tử vong cao cho trẻ sơ sinh, đẻ non còn thường để lại các di chứng lâu dài cho sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ, tăng thêm gánh nặng cho gia đình và xã hội. Việc xử trí đẻ song thai cho đến nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau. Tỷ lệ mổ lấy thai trong đẻ song thai ngày càng cao do lý do sản khoa cũng như lý do xã hội.
Nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Lan Hương – Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Nguyễn Thanh Phong – Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội tiến hành nghiên cứu “Nhận xét tình hình đẻ song thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương”.
Nghiên cứu nhằm 2 mục tiêu (1) Xác định tỷ lệ đẻ song thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong sáu tháng cuối năm 2015; (2) Nhận xét một số đặc điểm, thái độ xử trí và kết quả đẻ song thai trong giai đoạn trên.
Đối tượng nghiên cứu là các sản phụ song thai, có tuổi thai từ 23 tuần trở lên, sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ ngày 01/7/2015 đến 31/12/2015.
Theo báo cáo của nhóm tác giả nghiên cứu, trong 6 tháng cuối năm 2015 có 618 trường hợp đẻ song thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương thỏa mãn các tiêu chuẩn nghiên cứu, trong đó có 504 trường hợp mổ lấy thai, 114 trường hợp đẻ đường âm đạo. Tỷ lệ đẻ song thai là 5,7%. Đẻ song thai bằng phương pháp mổ chiếm tỷ lệ 8,5% trên tổng số mổ lấy thai. Đẻ song thai bằng đường âm đạo chiếm tỷ lệ 2,3% trên tổng số đẻ đường âm đạo. Đẻ song thai gặp nhiều nhất ở lứa tuổi 25-29 và 30-34, các sản phụ làm nghề tự do và có thai lần đầu. Số lượng các sản phụ sống tại Hà Nội và các tỉnh khác là tương đương. Tuổi thai đẻ song thai hay gặp nhất là 33-37 tuần (47,2%).
Đối với tỷ lệ các ngôi thai trong đẻ song thai, tỷ lệ ngôi đầu – đầu và ngôi đầu – mông là cao nhất chiếm hơn 68%. Về phân bố cách đẻ song thai, đẻ thường chiếm tỷ lệ 18,4%; mổ lấy thai chiếm tỷ lệ 81,6%. Chỉ định mổ lấy thai do nguyên nhân thụ tinh trong ống nghiệm chiếm 42,7%; vỡ ối sớm - ối vỡ non chiếm 23,8%; bệnh lý của mẹ chiếm 19,2%. Trong nhóm đẻ đường âm đạo, kiểm soát tử cung chiếm tỷ lệ 91,2%; 01 trường hợp phải cắt tử cung bán phần. Trong nhóm mổ lấy thai, tỷ lệ thắt động mạch tử cung chiếm 3,2%.
Đối với trọng lượng thai trong đẻ song thai, tỷ lệ thai có trọng lượng từ 2000 - < 3000 g là cao nhất, khác biệt có ý nghĩa thống kê với các nhóm còn lại (p < 0,05).
Đối với tỷ lệ tử vong sơ sinh, trong 618 thai phụ đẻ song thai có 14 trường hợp song thai một thai lưu, còn lại 1222 trẻ sơ sinh. Trong số 1222 trẻ sơ sinh có 109 trẻ tử vong, chiếm tỷ lệ 8,9%. Tỷ lệ tử vong sơ sinh cao nhất ở tuổi thai 23-27 tuần (71,3%) và thấp nhất ở nhóm tuổi thai > 37 tuần (0,5%), khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các nhóm còn lại (p < 0,05).
Theo phân tích của tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Lan Hương, với một số lượng đáng kể phụ nữ có thai do thành công của điều trị vô sinh dẫn đến tỷ lệ đa thai ngày một gia tăng và tuổi của các thai phụ đẻ song thai thường lớn hơn so với các thai phụ đẻ một thai. Trong nghiên cứu, tỷ lệ đẻ song thai cao nhất và tương đương nhau ở nhóm tuổi 25 - < 30 và 30 - < 35 tuổi. Số lượng các sản phụ sống tại Hà Nội và các tỉnh khác là tương đương. Tuổi thai đẻ song thai hay gặp nhất là 33-37 tuần (47,2%).
Tác giả cũng lưu ý đối với các trường hợp thụ tinh trong ống nghiệm chỉ định mổ lấy thai chủ động là chủ yếu, rất ít trường hợp mổ lấy thai khi chuyển dạ. Qua sự so sánh này, có thể thấy rằng trong một thập kỷ qua số trẻ ra đời nhờ phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm đã tăng lên một cách đáng kể mà nguyên nhân là do sự tiến bộ vượt bậc của các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
Các biến chứng về phía mẹ trong nghiên cứu thường ở mức độ nhẹ và không nguy hiểm đến tính mạng. Trong cuộc đẻ song thai, đờ tử cung và băng huyết sau đẻ là biến chứng thường gặp do tử cung căng quá mức, diện rau bám rộng, co hồi tử cung sau đẻ kém.
Theo tác giả nghiên cứu, tỷ lệ tử vong sơ sinh trong đẻ song thai luôn cao hơn so với trong đẻ một thai do tỷ lệ đẻ non cao hơn, trọng lượng thai thấp hơn, tỷ lệ thai bệnh lý cao hơn. Cùng với sự tiến bộ của chăm sóc và điều trị sơ sinh, tỷ lệ tử vong sơ sinh đã được cải thiện một cách đáng kể.
Với kết quả nghiên cứu, tỷ lệ tử vong sơ sinh cao nhất là tuổi thai 23-27 tuần (71,3%), điều này hoàn toàn phù hợp do tuổi thai quá non, khả năng sống của trẻ là rất thấp. Tỷ lệ tử vong sơ sinh ở tuổi thai 28-32 tuần là 10,6%, thấp hơn rõ rệt so với kết quả của N.M.Nguyệt (năm 1996-1997:50%, năm 2006-2007:24,4%) và N.T.K. Oanh (năm 2006: 46,2%). Sự so sánh này có ý nghĩa rất quan trọng, đã khẳng định sự tiến bộ vượt bậc của y học hiện đại nói chung và chuyên ngành sơ sinh nói riêng, mang đến cơ hội sống cho rất nhiều trẻ sơ sinh song thai non tháng, đem lại niềm hạnh phúc to lớn cho nhiều gia đình và toàn xã hội./.
Minh Tâm