
Nhiễm khuẩn sơ sinh sớm (NKSSS) là một bệnh lý thường gặp và là nguyên nhân quan trọng gây tử vong ở trẻ sơ sinh.
Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm trên thế giới có khoảng 5 triệu trẻ sơ sinh tử vong và 98% trong số này là ở các nước đang phát triển.
Có 3 nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ sơ sinh là nhiễm khuẩn, sang chấn khi sinh và đẻ non trong đó nhiễm khuẩn là nguyên nhân chiếm tỷ lệ cao nhất 32%, ngạt và các sang chấn khi sinh là 29%, tử vong do đẻ non là 24%. NKSSS là tình trạng nhiễm khuẩn xảy ra trong vòng 72 giờ đầu sau đẻ và thường liên quan tới nhiễm khuẩn của mẹ.
Từ cuối năm 2015 đến đầu năm 2016, nhóm tác giả nghiên cứu Trần Diệu Linh - Bệnh viện Phụ sản Trung ương cùng cộng sự tiến hành nghiên cứu “Nhiễm khuẩn sơ sinh sớm ở trẻ đủ tháng sinh mổ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương”.
Nghiên cứu có 2 mục tiêu, (1) Mô tả một số dấu hiệu lâm sàng, cận lâm sàng của trẻ sơ sinh đủ tháng sinh mổ mắc NKSSS; (2) Tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ liên quan tới trẻ sơ sinh đủ tháng sinh mổ mắc NKSSS.
Theo tác giả nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu là tất cả trẻ sơ sinh ≥ 37 tuần sinh mổ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương có dấu hiệu lâm sàng nghi ngờ nhiễm khuẩn trong 3 ngày đầu sau sinh. Tiêu chuẩn loại trừ là trẻ < 37 tuần, sinh thường, sinh mổ có dấu hiệu nhiễm khuẩn sau 3 ngày, trẻ có dị tật bẩm sinh.
Kết quả báo cáo nghiên cứu cho thấy có 69 trường hợp đủ điều kiện tham gia nghiên cứu, trong đó sinh mổ bị mắc NKSSS là 52 trường hợp trong tổng số 2707 ca sinh mổ, chiếm tỷ lệ 1,9%; 17 trường hợp sinh thường trong tổng số 2600 ca sinh thường, chiếm tỷ lệ 0,6%.
Đặc điểm chung cho thấy trẻ trai mắc NKSSS là 65,4%, cao hơn so với trẻ gái 34,6%. Lý do mổ đẻ liên quan tới bệnh lý mẹ hoặc thai có nguy cơ cao NKSSS là xấp xỉ 30%, trong khi đó lý do mổ đẻ có tính chủ động chiếm đa số > 70%. Sinh mổ bên cạnh một số lợi ích cho trẻ, có nhiều bất lợi khác đặc biệt trẻ dễ bị suy hô hấp và khả năng miễn dịch của trẻ kém. Khả năng miễn dịch với bệnh của trẻ sinh mổ thường kém hơn so với những trẻ được sinh ra bằng phương pháp sinh thường vì trẻ không có nhiều cơ hội để tiếp xúc với vi khuẩn có lợi trên cơ thể mẹ qua tiếp xúc đường sinh dục của mẹ, tiếp xúc da kề da ngay với mẹ trong kỹ thuật chăm sóc trẻ sơ sinh sớm ngay sau đẻ. Tuy nhiên để có kết luận liên quan giữa NKSSS với phương pháp sinh mổ cần có nghiên cứu sâu hơn.
Về đặc điểm lâm sàng, thời gian xuất hiện dấu hiệu lâm sàng, tác giả nghiên cứu báo cáo NKSSS phần lớn có nguồn gốc từ mẹ sang thai. Quá trình nhiễm khuẩn thường xảy ra trước đẻ. Kết quả cho thấy 59,6% (31 ca) xuất hiện triệu chứng của nhiễm khuẩn < 12 giờ sau đẻ, trong đó có 18 ca có biểu hiện lâm sàng ngay sau đẻ.
Mổ lấy thai đặc biệt là mổ chủ động làm tăng tỷ lệ mắc các bệnh lý về hô hấp sau đẻ như chậm hấp thu dịch phế nang tăng, cơn thở nhanh thoáng qua. Trẻ sau mổ đẻ mặc dù điểm Apgar tốt nhưng khi vào trung tâm Sơ sinh hơn 2/3 số ca sinh mổ mắc NKSSS có dấu hiệu lâm sàng là biểu hiện về hô hấp như da tím, thở rên, co rút cơ hô hấp…, hầu hết được chẩn đoán ban đầu là theo dõi chậm tiêu dịch phổi, trẻ được theo dõi sát và có rất nhiều ca trẻ suy hô hấp tăng dần mặc dù Xquang phổi sáng nhưng các xét nghiệm máu như CTBC, CRP, PCT cho thấy trẻ suy hô hấp do mắc NKSSS. Cả 3 trường hợp cấy máu dương tính đều có biểu hiện bệnh lý về hô hấp.
Các xét nghiệm chẩn đoán nhiễm khuẩn PCT tăng cao gặp trong 31 trường hợp, biến đổi CTBC (tăng hoặc giảm BC) gặp trong 31 trường hợp, CRP chỉ tăng trong 9 trường hợp.
Kết quả nghiên cứu về yếu tố nguy cơ cho thấy trẻ NKSSS có 1 hoặc 2 yếu tố chiếm 51,5%; tỷ lệ trẻ có ≥ 3 yếu tố nguy cơ chiếm 23,1%. Tuy nhiên vẫn có 8/52 (15,4%) trẻ NKSSS không tìm thấy yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn. Điều này cho thấy ở trẻ sơ sinh dù có một hay nhiều yếu tố nguy cơ, ngay cả khi không tìm thấy yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn nào cũng phải được theo dõi cẩn thận để phát hiện kịp thời NKSSS, đặc biệt những trẻ có yếu tố nguy cơ cao.
Mẹ mắc nhiễm khuẩn tiết niệu, nhiễm khuẩn sinh dục là yếu tố nguy cơ chiếm tỷ lệ cao trong nghiên cứu. Theo phân loại về yếu tố nguy cơ, nhiễm khuẩn tiết niệu hoặc nhiễm khuẩn sinh dục của mẹ trong vòng 1 tháng trước đẻ thuộc nhóm yếu tố nguy cơ cao gây NKSSS.
Tác giả nghiên cứu có kết luận so với sinh thường, sinh mổ có tỷ lệ trẻ mắc NKSSS cao hơn. Tỷ lệ NKSSS là cao nhất ở tuổi thai ≥ 37 - 38 tuần (50%). Tỷ lệ mắc NKSSS cao hơn ở nhóm chỉ định mổ lấy thai chủ động (70%) so với nhóm chỉ định mổ lấy thai do bệnh lý mẹ hoặc thai có nguy cơ (30%). Có 67,4% trẻ mắc NKSSS có dấu hiệu lâm sàng là suy hô hấp; 59,6% các trường hợp NKSSS xuất hiện triệu chứng trong vòng 12 giờ đầu sau đẻ. Cấy máu vẫn là tiêu chuẩn vàng chẩn đoán NKSS nhưng tỷ lệ (+) thấp (3/47 ca). Yếu tố nguy cơ hay gặp là nhiễm khuẩn tiết niệu, nhiễm khuẩn sinh dục của mẹ trong tháng cuối của thai kỳ và thai chậm phát triển trong tử cung.
Tác giả kiến nghị cần thực hiện tốt tư vấn khám thai, kiểm tra theo dõi xét nghiệm đặc biệt là xét nghiệm nước tiểu, thực hiện khám trong cho sản phụ để phát hiện và điều trị nhiễm khuẩn sinh dục kịp thời tránh lây truyền nhiễm khuẩn từ mẹ sang thai./.
Huy Hoàng