Suy tim là một hội chứng lâm sàng thường gặp ở trẻ em, là kết quả của các rối loạn về chức năng hoặc cấu trúc tim, làm giảm khả năng làm đầy và /hoặc tống máu của tâm thất. Tỷ lệ mắc suy tim khác nhau theo từng nước, theo tác giả Rossano JW ở Mỹ, suy tim ảnh hưởng đến từ 12.000 đến 35.000 trẻ em dưới 19 tuổi mỗi năm, các trường hợp nhập viện liên quan đến suy tim chiếm khoảng 11.000 đến 14.000 số trường hợp nhập viện ở trẻ em mỗi năm tại Hoa Kỳ.

Biểu hiện suy tim ở trẻ em rất đa dạng, phụ thuộc nhiều vào nguyên nhân. Suy tim có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm thậm chí tử vong nếu không được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời. Từ tháng 4/2013 đến tháng 7/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Trương Thị Mai Hồng cùng cộng sự Bệnh viện Nhi Trung Ương báo cáo đề tài “Đặc điểm lâm sàng và nguyên nhân suy tim trẻ em”. Đối tượng nghiên cứu là trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung Ương được chẩn đoán suy tim và phân độ suy tim theo tiêu chuẩn Ross cải tiến.
Theo tiêu chuẩn Ross sửa đổi, suy tim gồm có 4 độ: Độ I: 0 – 2 điểm: không có suy tim; Độ II: 3 – 6 điểm: Suy tim mức độ nhẹ; Độ III: 7 – 9 điểm: Suy tim mức độ vừa; Độ IV: 10 – 12 điểm: Suy tim mức độ nặng. Chẩn đoán suy tim khi có từ 3 điểm trở lên.
Tiêu chuẩn loại trừ: Các trẻ mắc các bệnh nội khoa như suy hô hấp, suy thận hoặc các bệnh lý nội tiết.
Tác giả nghiên cứu báo cáo có 80 đối tượng nghiên cứu được chọn tham gia nghiên cứu. Tỷ lệ trẻ nam suy tim so với trẻ nữ là 1,16, nhóm tuổi mắc bệnh nhiều nhất là từ 01 tháng đến 5 tuổi.
Tác giả nghiên cứu phân tích, theo nghiên cứu của Massin MM tỷ lệ suy tim ở trẻ em chiếm 10,4% trong các bệnh lý tim mạch, bao gồm tim bẩm sinh cũng như tim mắc phải ở trẻ em. Trẻ sơ sinh được phát hiện nhiều tim bẩm sinh hơn so với các bệnh tim khác. Trong nghiên cứu của tác giả có 6 bệnh nhân suy tim ở tuổi sơ sinh bị tim bẩm sinh chiếm tỷ lệ 8%. Cũng theo tác giả Massin MM, suy tim chủ yếu xảy ra trong những năm đầu đời của trẻ em với tỷ lệ chiếm 58,1%. Trong khi đó, tỷ lệ tử vong liên quan đến bệnh lý suy tim do nguyên nhân của tim bẩm sinh là 4,7% thấp hơn so với các bệnh lý tim mạch khác là 8,7% với bệnh tim mắc phải, 23,0% với rối loạn nhịp tim và 25,0% đối với bệnh cơ tim. Tác giả Jayaprasad đưa ra kết quả cho thấy, bệnh tim bẩm sinh chiếm khoảng 8/1000 trường hợp sinh sống và suy tim liên quan đến bệnh tim bẩm sinh chiếm khoảng 20% trong số tất cả các bệnh nhân. Rossano báo cáo rằng 10.000 – 14.000 trẻ em được nhập viện mỗi năm với chẩn đoán suy tim và tỷ lệ tử vong chiếm 7%.
Đối với các nguyên nhân gây suy tim, BS Mai Hồng báo cáo, bệnh tim bẩm sinh là nguyên nhân hàng đầu gây suy tim ở trẻ em chiếm 33%, trong đó bệnh cơ tim giãn cũng là nguyên nhân khá thường gặp 24%. Các nguyên nhân nhiễm trùng ít gặp hơn gồm thấp tim, Osler và tràn dịch màng tim (10%). Bệnh lý viêm cơ tim cấp chiếm 16%; tuy nhiên chưa có bằng chứng rõ ràng để chứng minh là nguyên nhân do virus hay là các nguyên nhân khác. Jayaprasad đã chỉ ra rằng nguyên nhân của suy tim ở trẻ em rất khác biệt so với người lớn và nhiều trường hợp do dị dạng bẩm sinh mà thường dẫn đến suy tim nặng. Ngoài ra bệnh lý như bệnh cơ tim cũng chiếm tỷ lệ đáng kể và thường đưa đến kết cục xấu về mặt tiên lượng bệnh. Tỷ lệ tim bẩm sinh cũng là nguyên nhân hàng đầu gây suy tim đặc biệt là trẻ nhỏ. Theo tác giả Massin MM cho rằng có sự khác biệt rõ ràng giữa suy tim ở trẻ nhỏ và suy tim ở trẻ lớn là bệnh tim bẩm sinh đặc biệt là tim bẩm sinh phụ thuộc ống. Trẻ lớn hơn suy tim do các bệnh tim mắc phải và rối loạn nhịp tim. Tác giả cũng cho rằng nghiên cứu được thực hiện ở Châu Âu nên các bệnh tim mạch do nhiễm trùng và Kawasaki ít gặp. Một nhóm bệnh nặng khác gây suy tim ở trẻ em ở các nước đang phát triển là sốt thấp khớp và thấp khớp. Mặc dù tỷ lệ mắc bệnh của bệnh thấp khớp được ghi chép lại, nhưng có rất ít dữ liệu về suy tim ở nhóm này. Tác giả Daphne T. Hsu cho rằng bệnh tim bẩm sinh hoặc bệnh tim sau phẫu thuật tim chiếm tới 61% và 82% trường hợp suy tim ở trẻ sơ sinh. Ngược lại, ở người lớn, dưới 1% số trường hợp bị suy tim là do bệnh tim bẩm sinh. Nghiên cứu 10 năm liên tục ở tại Trung tâm tim mạch Châu Âu suy tim nhập viện chiếm 10-33% trong tổng số các bệnh lý về tim.
Đối với các triệu chứng lâm sàng suy tim, BS Mai Hồng cho biết, khó thở và nhịp tim nhanh là các triệu chứng lâm sàng gặp chủ yếu trong suy tim chiếm tỷ lệ 87,5% và 84%. Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu về các triệu chứng lâm sàng suy tim trẻ em khác. Trong khi đó, vã mồ hôi là triệu chứng suy tim thường gặp của trẻ bú mẹ. Dấu hiệu này gặp hầu hết ở trẻ bú mẹ chiếm tỷ lệ 95%. Tuy nhiên các dấu hiệu này đánh giá chủ yếu dựa vào quá trình hỏi bệnh sử và là dấu hiệu chủ quan. Mặc dù vậy các tác giả khác cũng cho rằng tuy không phải là triệu chứng lâm sàng rầm rộ nhưng vã mồ hôi là triệu chứng khá điển hình suy tim ở trẻ bú mẹ. Ngoài ra, đây cũng là dấu hiệu có thể góp phần đánh giá tiến triển quá trình điều trị suy tim ở trẻ em ở trẻ bú mẹ. Trong khi đó dấu hiệu phù rất hiếm khi gặp ở trẻ lớn trên 5 tuổi và dấu hiệu này cũng chỉ chiếm 9% nhưng gặp 100% ở trẻ tràn dịch màng ngoài tim. Vì thế dấu hiệu phù là dấu hiệu lâm sàng kín đáo ở trẻ suy tim.
Tác giả nghiên cứu có kết luận suy tim trẻ em gặp nhiều ở nhóm dưới 5 tuổi, biểu hiện lâm sàng không đặc hiệu: khó thở, nhịp tim nhanh, vã mồ hôi. Nguyên nhân gây suy tim do tim bẩm sinh, bệnh cơ tim giãn, cơn nhịp nhanh.
Hồng Sơn